Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở Chương 2: Thực trạng đội ngũ và thực trạng việc xây dựng đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh Chương 3: Các giải pháp xây dựng đội ngũ nữ cán bộ quản lý trường trunghọc cơ sở huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh 2020 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận cũng như các giải pháp phát triển giáo dục, trong đó có đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý trong ngành giáo dục cũng như ở các cấp học, bậc học khác nhau. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 nêu bảy nhóm giải pháp phát triển giáo dục, trong đó nêu rõ “đổi mới chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm; đổi mới QLGD là khâu đột phá "[9, tr. Cuốn sách "Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI Chiến lược phát triển" của tác giả Đặng Bá Lãm đã có những phân tích khá sâu sắc về giải pháp đổi mới QLGD.
Tác giả Vũ Văn Tảo có “Đổi mới tư duy quản lý nhà nước về giáo dục trong triển khai thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010”; Các tác giả Vũ Ngọc Hải và Trần Khánh Đức trong cuốn "Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI" đã trình bày quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển giáo dục và hệ thống giáo dục, làm rõ thêm nhận thức về Chiến lược phát triển giáo dục [19, tr. 230-237], ngoài ra còn nhiều tài liệu khác đề cập đến vấn đề này. Các nghiên cứu đã đề cập vấn đề giải pháp nâng cao chất lượng QLGD, cụ thể là nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường học. Các nghiên cứu này đưa ra các khuyến cáo nhằm cải thiện tình hình chung cho ngành giáo dục trên phạm vi toàn quốc.
Những khuyến cáo này cũng đã được xem xét và đưa vào áo dụng trong thời gian qua, tuy nhiên để áp dụng cho từng địa phương cụ thể thì cần thiết phải có những nghiên cứu sâu hơn nữa. Đến thời điểm hiện tại, ở Huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh chưa có công trình nào nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ CBQL, đặc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt là nữ CBQL trường THCS của huyện Đông Triều, tỉnh trong thời kỳ đổi mới. Trong khi đó yêu cầu thực tiễn giáo dục và đào tạo của tỉnh đang đặt ra những vấn đề bức xúc phải giải quyết. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THCS của huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là cần thiết.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý a) Khái niệm về quản lý: Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức, một cơ sở nhất định.Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ và trong mọi tổ chức đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó cá cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định. Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Anh là Management) được “Báck khoa toàn thư mở Wikipedia” định nghĩa như sau: “Quản lý là quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thực và giá trị vô hình). Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do nhà xuất bản Giáo dục xuất bản 2004 : Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.
Đầu thế kỷ 20 nhà văn, nhà quản lý Mary Parker Follett định nghĩa quản lý là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác". Ngày nay, khái niệm “Quản lý” đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một khái niệm thống nhất. Hoạt động quản lý được nhiều tác giả đề cập đến theo những cách tiếp cận khác nhau: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [24, tr. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các tác giả Nguyến Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc quan niệm: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau : quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển”…Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)” [2, tr. Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.” Những khái niệm trên tuy có khác nhau về cách tiếp cận và cách diễn đạt nhưng đều có chung những dấu hiệu chủ yếu sau: - Hoạt động quản lý có tính đa dạng, tác dụng một cách tổng hợp, được tiến hành trong một tổ chức hay một nhốm xã hội - Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích. - Hoạt động quản lý là nhứng tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân, là sự lựa chọn các khả năng tối ưu nhằm thực hiện các mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Qua đó, khái niệm quản lý có thể được hiểu như sau: Quản lý là quán trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận hành hợp quy luật và đạt được những mục tiêu đề ra.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quá trình tác động đó có thể thể hiện qua sơ đồ sau: Nội dung quản lý Mục tiêu Chủ thể quản quản lý Khách thể lý quản lý Phƣơng pháp và công cụ quản lý Sơ đồ 1.1: Quá trình tác động của hoạt động quản lý b) Các cấu phần của quản lý: Quản lý gồm có hai thành phần: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý: là người quản lý. Chủ thể quản lý chỉ có thể là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên. Khách thể quản lý: Là người bị quản lý, đối tượng này có thể là người (quản lý ai?), vật (quản lý cái gì?), hay sự việc (quản lý sự việc).
Cũng có khi khách thể là người, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn. Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau. Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu con người, thoả m•n mục đích của chủ thể quản lý. c) Cơ chế quản lý: Cơ chế quản lý là phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lý được thực hiện và quan hệ qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được vận hành và điều chỉnh.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com d) Chức năng quản lý Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Thực chất của các chức năng quản lý chính là do sự tồn tại các hoạt động quản lý. Chức năng quản lý có chức năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Nhiều người cho rằng quản lý có bốn chức năng cơ bản, đồng thời là bốn khâu có liên quan mật thiết với nhau, đó là: Lập kế hoạch: Bao gồm xác định mục tiêu của tổ chức, thiết lập chiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đó, và phát triển một hệ thống thứ tự rõ ràng của kế hoạch để gắn kết và đan xen các hoạt động; Tổ chức (công việc và các nguồn lực): Là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành và nguồn lực cho các bộ phận, các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả; Lãnh đạo (chỉ đạo): Là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức, làm cho họ gắn kết, nhiệt tình, tự giác và nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức; Kiểm tra, đánh giá: Là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tìm ra mặt ưu điểm, mặt hạn chế, qua đó đánh giá, điều chỉnh và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức, làm cho mục tiêu của quản lý được hiện thực hoá một cách đúng hướng và có hiệu quả. Các chức năng quản lý làm nên bản chất của quản lý. Nó nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy và là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của tổ chức. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.