CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Quản lý a/ Khái niệm chung về quản lý Quản lý là một hoạt động được hình thành ngay từ lúc con người có nhu cầu hợp tác với nhau để tự vệ hoặc để thực hiện những công việc chung, khi ấy giữa những con người phải hiểu và thống nhất mục tiêu chung, phải phân công công việc, phải chia trách nhiệm và phải có sự hỗ trợ phối hợp với nhau. Nếu không thì hiệu quả chung sẽ thấp và thậm chí cản trở, triệt tiêu lẫn nhau.
Vì thế Mác nói: "Một người chơi vĩ cầm riêng thì tự điều chỉnh mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng"(23-14) * Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý. Ở Việt Nam, các nhà khoa học đã cố một số khái niệm sau: • "Quản lý là một hoạt động thiết yếu nảy sinh trong quá trình hoạt động chung nhằm đảm bảo sự phôi hợp những nỗ lực cá nhân, nhằm thực hiện các mục tiêu chung"(20-2). • "Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục tiêu đã định" (21-7). "Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích, có tổ chức, có sự lựa chọn trong số các tác động có thể, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối lượng và môi trường, * Trong luận văn viết (23-14) xin được hiểu trích ở Tài liệu tham khảo số 23 trang 14 13 nhằm giữ cho sự vận hành của các đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định" (16-6).
"Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung" (17-176). "Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: quản và lý. Quá trình "quản" gồm sự coi sóc, gìn giữ, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình "lý" gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào thế "phát triển"" (24-5). Các định nghĩa trên tuy có cách diễn đạt khác nhau, nhưng cơ bản đã phản ánh những hoạt động quản lý.
Ta có thể hiểu một cách chung nhất về quản lý là: "Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" (12-1). Chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý thông qua công cụ, phương pháp, thể hiện qua sơ đồ 1: b/ Bản chất hoạt động quản lý và các chức năng quản lý: * Bản chất của hoạt động quản lý: Từ khi con người biết hợp tác với nhan để tự vệ và mưu sinh thì nó xuất hiện những yếu tố khách quan, những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều hành. để thực hiện mục tiêu. Sự phối 14 hợp này tạo nên sức mạnh giúp con người đạt được những mục tiêu cần thiết.
Như vậy, trong quá trình vận động, phát triển xã hội và quản lý không thể tách rời nhau, khi lao động đạt tới một trình độ nhất định, có sự phân công xã hội thì quản lý như là một chức năng, đó là tất yếu khách quan. Trong một tổ chức, nhóm, cộng đồng, chủ thể quản lý tác động có định hướng, có chủ đích đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục đích. Những tác động qua lại đó có tác động lan tỏa rộng rãi. Trong xã hội có giai cấp thì hoạt động quản lý phục vụ quyền lợi của giai cấp, do vậy hoạt động quản lý mang tính giai cấp rõ rệt.
Hoạt động quản lý mang tính khoa học cao, bởi sự tác động giữa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua công cụ, phương tiện, phương pháp phải phù hợp với quy luật khách quan thì mới đạt được hiệu quả. Vậy, "hoạt động quản lý vừa cố tính khách quan, vừa có tính chủ quan vì được thực hiện bởi người quản lý. Mặt khác, nó vừa có tính giai cấp lại vừa có tính kỹ thuật, vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật Nhà nước lại vừa có tính xã hội rộng rãi. Chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất.Đó là biện chứng, là bản chất của hoạt động quản lý" (19-62).
* Các chức năng quản lý: Quản lý gồm 04 chức năng chủ yếu, cơ bản có liên quan mật thiết với nhau, đó là: kế hoạch hóa, tố chức, chỉ đạo và kiểm tra. Kế hoạch hóa: Là làm cho việc thực hiện có kế hoạch trên diện rộng, quy mô lớn. Căn cứ vào thực trạng và dự định của tổ chức để xác định mục tiêu, mục đích, xác định những biện pháp nhằm đạt được mục tiêu đã định. Tổ chức: Là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, bộ phận nhằm đạt mục tiêu kế hoạch.
Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản ly có thể phối hợp, điều phối các nguồn lực, vật lực, nhân lực. Chỉ đạo (lãnh đạo): Đó chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý. Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành nhiệm vụ để đạt mục tiêu của tổ chức. 15 Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, theo dõi giám sát thành quả hoạt động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa những hoạt động sai.
Đây là quá trình tự điều khiển của hoạt động quản lý. Các chức năng trên thực tế gắn bó chặt chẽ, đan xen lẫn nhau trong quá trình quản lý. Việc phân chia như trên chỉ có tính cách tương đối, giúp người CBQL hình dung, định hướng các hoạt động của mình trong quá trình quản lý. Còn trong thực tế, chúng không bao giờ tách biệt một cách rõ ràng.
Các chức năng trên được lặp đi lặp lại trong suốt quá Hình quản lý, nên còn gọi là những chu trình quản lý. Trong chu trình quản lý có một yếu tố thâm nhập vào mọi chức năng: yếu tố thông tin. Đây là yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả của từng chức năng quản lý. Quản lý giáo dục Giáo dục là một bộ phận trong hệ thống xã hội, có chức năng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự tồn tại và phát triển xã hội tương lai.
Vì vậy, quản lý giáo dục là sự vận dụng khoa học quản lý vào các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu mong muốn của giáo dục. Quản lý giáo dục thực chất là quản lý Nhà nước trong giáo dục, đó là sự sử dụng công quyền trong việc quản lý các hoạt động thuộc lĩnh vực giáo dục. Theo Luật Giáo dục: "Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng" (7-12). 16 Quan niệm về quản lý giáo dục cũng khác nhau ở những nước khác nhau, cho đến nay có nhiều cách định nghĩa nhưng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung, bản chất.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Gia Quý: "Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân" (19-12). Cụ thể hơn, quản lý giáo dục là quản lý các thành tố trong hệ thống giáo dục, các cơ sở giáo dục, là sự vận dụng các chức năng quản lý: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra của chủ thể quản lý vào quá trình thực hiện các nguyên lý giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục nhằm đạt đến mục tiêu giáo dục, đó là hình thành nhân cách con người đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quản lý trường học Quản lý giáo dục được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa rộng giáo dục là các hoạt động diễn ra trong xã hội thì quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động về giáo dục trong xã hội.
Các cấp quản lý giáo dục bao hàm từ Trung ương đến địa phương và các cơ sở trường học. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp giáo dục là các hoạt động diễn ra trong ngành Giáo dục - Đào tạo hay một đơn vị cơ sở trường học thì quản lý giáo dục được hiểu là quản lý một đơn vị cơ sở Giáo dục - Đào tạo, quản lý nhà trường. Quản lý nhà trường là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường là quản lý cơ sở của ngành Giáo dục. Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc đã đứa ra nội dung khái quát về khái niệm quản lý nhà trường: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành Giáo dục, với thể hệ trẻ và với từng học sinh" (13-22).
Quản lý trường học chính là những công việc của nhà trường mà người CBQL trường học thực hiện chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình. Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động 17 của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và học. Trường học là một hệ thống xã hội nằm trong môi trường xã hội, một bộ phận cộng đồng và có tác động quan lại với môi trường đó. Theo Phó Giáo sư - Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo: "Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở".
Như vậy, ta có thể hiểu công tác quản lý trường học bao gồm sự quản lý các quan hệ nội bộ (bên trong) của nhà trường và quan hệ giữa nhà trường với xã hội (bên ngoài).