phần mở đầu, kết luận - khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung cơ bản của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ nữ CBQL trƣờng THCS; Chƣơng 2. Thực trạng phát triển đội ngũ nữ CBQL các trƣờng THCS thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Chƣơng 3. Biện pháp phát triển đội ngũ nữ CBQL trƣờng THCS thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về quản lý đội ngũ CBQL ở nước ngoài - Theo cuốn “một số vần đề về tƣ tƣởng” của Hồ Văn Vĩnh (nhà xuất bản chính trị quốc gia; Hà Nội - 2003) cuối thể kỷ XVIII, Robert owen (1771 - 1858) Chales Babbage (1972 - 1871) và Andrew Ure (1778 - 1875) ở phƣơng Tây đã đƣa ra ý tƣởng muốn tăng năng suất lao động, cần tập trung giải quyết một số yếu tố cơ bản trong hoạt động quản lý nhƣ vấn đề phúc lợi, giám sát công nhân, mối quan hệ giữa ngƣời quản lý đối với ngƣời bị quản lý và đặc biệt là nâng cao năng lực quản lý cho ngƣời quản lý. Nhà khoa học Frederick Winslow Taylo (1856 - 1915) đã đề cập tới phát triển của ngƣời quản lý khi ông bàn về bốn nguyên tắc quản lý khoa học.
Theo các tác giả Nguyễn Thị Doan - Đỗ Minh Cƣơng - Phƣơng Kỳ Sơn viết tại cuốn “Các học thuyết quản lý” (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 1996) tại Pháp, tác giả Henri Fayol (1841 - 1925) đã đƣa ra 5 chức năng cơ bản của quản lý, 16 quy tắc về chức trách quản lý và 14 nguyên tắc quản lý hành chính, trong đó ông đã khẳng định nếu ngƣời quản lý có đủ phẩm chất và năng lực để kết hợp nhuần nhuyễn các chức năng, các quy tắc và nguyên tắc quản lý thì sẽ đạt đƣợc mục tiêu quản lý của tổ chức. - Vào thập kỷ 70 - 80 của thể kỷ XX đến nay, đã có các công trình nghiên cứu về quản lý trong môi trƣờng xã hội luôn luôn biến đổi, quản lý theo quan điểm hệ thống và quản lý tình huống thì vấn đề nâng cao chất lƣợng của ngƣời quản lý thực sự đã đƣợc đề cập tới. Tiêu biểu nhất là công trình của ba tác giả Harold Kntz, Cyril Odonnel, Heinz weihrich với tác phẩm nổi tiếng nhất là cuốn “những vấn đề cốt yếu của quản lý” - 1994. Công trình này đã đề cập nhiều hơn về các yêu cầu chất lƣợng của ngƣời quản lý.
Tình hình nghiên cứu về quản lý đội ngũ CBQL ở trong nước - Khi bàn về công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969) vĩ đại của chúng ta đã khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Mọi thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong” [31,Tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ - Hội nghị lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ƣơng (BCHTW) Đảng khóa VIII khẳng định "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nƣớc và chế độ” [12,Tr. - Có nhiều công trình khoa học về quản lý đã bàn về chất lƣợng của ngƣời quản lý. Ví dụ: Mai Hữu Khuê với cuốn “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý” (1982), Kiều Nam với cuốn “Tổ chức bộ máy lãnh đạo và quản lý” (1983); Nguyễn Minh Đạo với cuốn “Cơ sở của khoa học quản lý” (1997); Đỗ Hoàng Toàn với cuốn “Lý thuyết quản lý” (1998): Phạm Đức Thành (chủ biên) cuốn “Giáo trình quản trị nhân lực” (1995)… đã đề cập tới nhiều khía cạnh chất lƣợng CBQL của một tổ chức, trong đó có chất lƣợng của đội ngũ CBQL.
- Đứng ở góc độ quản lý giáo dục và quản lý nhà trƣờng, một số nhà khoa học Việt Nam đã đề cập tới chất lƣợng và phƣơng thức phát triển CBQL thông qua việc phân tích yếu tố lực lƣợng giáo dục. Ví dụ: các tác phẩm nhƣ: Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục của Phạm Minh Hạc - 1981; tuyển tập giáo dục học - một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Hà Thế Ngữ - 2001; Giáo dục học đại cƣơng của Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê - 1999; Kiểm định chất lƣợng giáo dục đại học của Nguyễn Đức Chính - 2002; Về hệ thống đảm bảo chất lƣợng giáo dục đại học Việt Nam (trong cuốn “Giáo dục học đại học”) của Lâm Quang Thiệp (2003); Khoa học quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Trần Kiểm - 2004. Nhìn chung, vấn đề chất lƣợng CBQL trƣờng học và phát triển CBQL trƣờng học đã đƣợc thể hiện ít nhiều trong các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nƣớc (đã nêu trên). Tuy nhiên, việc bàn về quản lý để phát triển CBQL trƣờng THCS của các Sở GD - ĐT ở Việt Nam thì chƣa có công trình nghiên cứu cụ thể, đó cũng là vấn đề chủ yếu mà chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu trong đề tài này.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “Biện pháp”, “Phát triển”, “Đội ngũ”, “Cán bộ” - “Biện pháp”:Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện khoa học xã hội Việt Nam thì biện pháp có nghĩa là: Cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể. - “Phát triển”:Theo Từ điển Tiếng Việt, phát triển là " Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp" [10, Tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Phát triển là thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nhƣ phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ.
Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tƣợng và con ngƣời trong xã hội. Nhƣ vậy, phát triển đƣợc hiểu là sự tăng trƣởng, là sự chuyển biến theo chiều hƣớng tích cực, tiến lên. Theo tác giả Đặng Bá Lãm, "Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyển biến mất đi và cái mới ra đời. Phát triển là một quá trình nội tại: bƣớc chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dƣới dạng tiềm tàng những khuynh hƣớng dẫn đến cái cao.
Còn cái cao là cái thấp đã phát triển".20] - “Đội ngũ”: Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ. Ngày nay khái niệm đội ngũ đƣợc dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi nhƣ: "Đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y, bác sỹ." đều xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự về đội ngũ đó là: " Khối đông ngƣời đƣợc tập hợp lại một cách chỉnh tề và đƣợc tổ chức thành lực lƣợng chiến đấu". Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau nhƣng đều có chung một điểm đó là: Một nhóm ngƣời đƣợc tổ chức và tập hợp thành một lực lƣợng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhƣng đều có chung một mục đích nhất định. Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông ngƣời, có cùng lý tƣởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng nhƣ tinh thần.
- “Cán bộ”: Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện khoa học xã hội Việt Nam thì cán bộ có nghĩa là: Ngƣời làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nƣớc. Ngƣời làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với ngƣời thƣờng không có chức vụ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Khái niệm quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.
Khái niệm “Quản lý” Theo Từ điển Tiếng Việt thuật ngữ "quản lý" đƣợc định nghĩa là: "Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan". Quản lý là hoạt động có mục đích, đƣợc tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến hành những hoạt động theo chức năng quản lý nhƣ xác định mục tiêu, hoạch định các chủ trƣơng, chính sách, kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, phối hợp, kiểm tra, huy động và sử dụng các nguồn lực cơ bản nhƣ tài lực, vật lực, nhân lực.để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. Trong cuốn "Lý luận quản lý nhà nƣớc" của tác giả Mai Hữu Khuê, xuất bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý nhƣ sau: "Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác.
Từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài ngƣời thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý đã có trong cả xã hội nguyên thuỷ, ở đó con ngƣời phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con ngƣời phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối".Taylor cho rằng: "Quản lý là biết chính xác điều muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất".Koontz thì khẳng định: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm" [25, Tr. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trƣờng mà trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con ngƣời.
Quản lý đúng tức là con ngƣời đã nhận thức đƣợc quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt đƣợc thành công theo ý muốn. Theo quan điểm chính trị xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể (ngƣời quản lý, ngƣời tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tƣợng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế.bằng một hệ thống luật Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.