CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU NGÀNH DỆT MAY 1. Tổng quan về chuỗi giá trị toàn cầu 1. Cơ sở lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu 1. Khái niệm chuỗi giá trị Chuỗi giá trị là không chỉ còn là khái niệm phổ biến ở các quốc gia phát triển mà còn phổ biến ở các quốc gia đang phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc nghiên cứu chuỗi giá trị có vai trò vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp trong việc đánh giá toàn bộ chuỗi cung ứng của mình cũng như đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia trong việc đánh giá chuỗi cung ứng ngành để hội nhập với xu hướng mở cửa hội nhập, quốc tế hóa thương mại. Khái niệm chuỗi giá trị lần đầu tiên được nhà kinh tế học nổi tiếng Michael Porter đưa ra vào năm 1985 trong cuốn sách “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior”, chuỗi giá trị “bao gồm toàn bộ các khả năng có thể làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm trong từng khâu hoạt động trong chuỗi cung ứng sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp’’ (Porter, 1985). Phân tích chuỗi giá trị miêu tả những hoạt động chính trong doanh nghiệp để chỉ ra các phần giá trị gia tăng được tăng thêm giữa các khâu vận hành của doanh nghiệp. Theo Porter, chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động cơ bản và các hoạt động hỗ trợ.
Những hoạt động cơ bản là những hoạt động tạo ra sản phẩm, dịch vụ cuối cùng (cung cấp nguyên liệu đầu vào, sản xuất, phân phối, tiếp thị bán hàng, dịch vụ sau bán). Còn những hoạt động hỗ trợ là những hoạt động được tạo ra nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện của các hoạt động cơ bản, bao gồm: quản lý hạ tầng doanh nghiệp, quản trị nguồn nhân lực, phát triển hệ thống công nghệ thông tin, và hoạt động thu mua). Quan điểm này của Porter tập trung vào qui mô doanh nghiệp. Trong cuốn “Handbook for Value Chain” (2001) của Raphael Kaplinsky và Mike Morris, chuỗi giá trị cũng được đề cập đến nhưng ở một góc nhìn rộng hơn, góc nhìn toàn cầu.
Theo đó, chuỗi giá trị “là tập hợp tất cả các hoạt động trong vòng đời của sản phẩm, từ khi hình thành ý tưởng, thiết kế, trải qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, phân phối, tiếp thị, tiêu thụ và tài sử dụng sản phẩm”. Dưới góc nhìn 7 rộng hơn của hai nhà kinh tế, có thể thấy, chuỗi giá trị không chỉ được sử dụng cho một doanh nghiệp mà nó còn được sự dụng trong qui mô rộng hơn, nhưng vẫn giữ nguyên bản chất chính của chuỗi giá trị chính là làm tăng thêm giá trị của sản phẩm qua từng khâu vận hành tạo ra sản phẩm. Thành phần cấu thành nên chuỗi giá trị Theo Michael Porter, một chuỗi giá trị bao gồm 5 hoạt động cơ bản (Primary Activities) và 4 hoạt động hỗ trợ bổ sung (Support Activities).1: Mô hình các nhân tố cấu thành chuỗi giá trị Nguồn: Porter, 1985. Các hoạt động chính là các hoạt động liên quan trực tiếp đến quá trình tạo ra sản phẩm, vận hành, quảng bá tiếp thị sản phẩm, phân phối và dịch vụ, có thể chia thành 5 nhóm hoạt động chính như sau: - Các hoạt động Logistics đầu vào (Inbound Logistics): từ các công đoạn như tìm kiếm, đánh giá và chọn nhà cung đến hoạt động thu mua, quản lý thu mua, vận chuyển, dự trữ, quản lý kho cho đến các hoạt động kiểm soát số lượng, chất 8 lượng,… Điều tạo nên giá trị ở công đoạn này chính là mối quan hệ của doanh nghiệp với các nhà cung cấp và việc quản lý việc thu mua và dự trữ sao cho tối thiểu hóa chi phí đầu vào của doanh nghiệp.
- Các hoạt động sản xuất (Operation): Phần giá trị gia tăng lớn nhất của sản phẩm được tạo ra ở công đoạn này, bao gồm các hoạt động liên quan trực tiếp đến quá trình biến đổi các nguyên vật liệu đầu vào thành các sản phẩm cuối cùng. Bên cạnh việc sản xuất thì việc quản lý sản xuất cũng đóng vai trò tương đối quan trọng, nếu như việc quản lý có tính hệ thống, chặt chẽ sẽ giúp cho hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp tăng lên, sản phẩm được sản xuất đúng quy cách và đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã,. - Các hoạt động Logistics đầu ra (Outbound Logistics): để sản phẩm đến được tay người tiêu dùng thì các hoạt động đầu ra của doanh nghiệp cần phải được thực hiện và phối hợp nhịp nhàng, sao cho tối ưu hóa được khoảng thời gian mà sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng của sản phẩm, tối ưu hóa chi phí vận chuyển thông qua việc tối ưu hóa mô hình vận chuyển và phân phối của doanh nghiệp. - Các hoạt động Marketing, xúc tiến bán hàng ( Marketing& Sale): Bao gồm các hoạt động quáng cáo, xúc tiến, bán hàng,… đưa sản phẩm đến gần hơn với khách hàng.
Quản lý hoạt động marketing hiệu quả giúp cho doanh nghiệp giảm bớt chi phí, tăng thêm lợi nhuận, nâng cao mức độ nhận diện sản phẩm, thương hiệu của người tiêu dùng, giúp đưa sản phẩm đến đúng nhóm đối tượng khách hàng phù hợp. - Các dịch vụ( Service): Bên cạnh giá trị cốt lõi mà sản phẩm mang lại thì các dịch vụ cũng góp phần gia tăng giá trị cho sản phẩm, khi quyết định sử dụng sản phẩm thì khách hàng cũng giành mối quan tâm đến các dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp như dịch vụ cài đặt, đào tạo, bảo trì, đổi trả và các dịch vụ hậu mãi. Những hoạt động này giúp tăng hiệu suất cho sản phẩm sau khi được sản xuất. Doanh nghiệp muốn đạt được giá trị tốt nhất cho sản phẩm thì cần quản lý hiệu quả và vận hành tốt các hoạt động chính, đồng thời thì việc quản lý các hoạt 9 động phụ trợ một cách tối ưu cũng góp phần quan trọng, các hoạt động phụ trợ trong chuỗi giá trị bao gồm: - Mua hàng (Procurement): là các hoạt động tìm kiếm, kiểm soát và quản lý chất lượng nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất phía sau, các hoạt động hoạch định, phân bổ, kiểm soát nguồn vốn đầu tư.
- Phát triển công nghệ (Technology Development): Công nghệ chính là nhân tố quyết định sự khác biệt với các sản phẩm tương tự cùng ngành. Hơn thế nữa công nghệ còn tạo nên giá trị gia tăng lớn cho sản phẩm. Có thể kể đến các hoạt động phát triển công nghệ như nghiên cứu, thiết kế, cải tiến công nghệ, sáng tạo,… Sản phẩm có theo kịp thời đại hay không, có phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hay không phần lớn là do yếu tố công nghệ quyết định. - Quản lý nguồn nhân lực ( Human resource management): Nhân lực, người lao động, đội ngũ nhân viên là lực lượng tham gia trực tiếp vào tất cả các công đoạn của chuỗi giá trị.
Từ việc tuyển dụng nhân lực đến việc đào tạo, tập huấn và quản lý nguồn nhân lực giúp cho doanh nghiệp đảm bảo các hoạt động của doanh nghiệp vận hành thông suốt, đạt hiệu quả, hiệu suất cao. - Cơ sở hạ tầng doanh nghiệp (Firm Infrastructure): Đây là các hoạt động hoạch định chiến lược, đưa ra các mục tiêu thuyết sách cho doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn. Các nhà quản trị doanh nghiệp cần quản lý tốt các hoạt động này có như vậy doanh nghiệp mới có những hướng đi đúng và đạt được thành công. Ngoài ra, mô hình chuỗi giá trị theo quan điểm của hai nhà nghiên cứu Raphael Kaplinsky và Mike Morris lại có những điểm khác biệt so với mô hình mà Michael Porter đã đưa ra.
Theo hai ông thì chuỗi giá trị bao gồm 4 liên kết chính giữa các công đoạn như thiết kế, phát triển sản phẩm, sản xuất, marketing, tiêu thụ và tái chế. Lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu 1. Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới thì việc nghiên cứu, đánh giá chuỗi giá trị trên góc độ toàn cầu là điều tất yếu. 10 Chuỗi giá trị toàn cầu là “Một dây chuyền sản xuất kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa trong đó có sự tham gia của nhiều quốc gia, chủ yếu là các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng” (Raphael Kaplinsky & Mike Morris, Handbook for value chain, 2001).
Chuỗi giá trị ở mỗi doanh nghiệp, ở mỗi ngành là khác nhau. Thay vì tự mình thực hiện toàn bộ các khâu trong chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp thường chỉ tập trung vào một hay một số khâu mà họ có lợi thế, và tiến hành tìm kiếm những thị trường, những doanh nghiệp có thể làm những khâu còn lại tốt hơn họ mà chi phí lại thấp hơn, điều này thấy rất rõ ở các công ty, tập đoàn đa quốc gia. Họ không mừng mở rộng qui mô, thị trường hoạt động mới để tận dụng các nguồn tài nguyên của các quốc gia đó nhằm giảm thiểu chi phí sản xuất. Các công ty này thường hướng đến các nước chưa phát triển và đang phát triển với nguồn nguyên liệu sản xuất phong phú, nguồn nhân công giá rẻ.
Từ đó, chuỗi giá trị toàn cầu được hình thành. Mỗi doanh nghiệp chỉ tập trung phát triển một khâu nào đó trong chuỗi cung ứng của mình, khai thác triệt để lợi thế của mình để tăng giá trị trong chuỗi giá trị toàn cầu. Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu Trong luận văn thạc sĩ với đề tài “Thực trạng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (CVC) của Trung Quốc trong ngành may mặc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” (2010), Đỗ Thị Ánh Nguyệt có đề cập đến việc phân loại chuỗi giá trị toàn cầu như sau: “Tùy theo tính chất và đặc thù của từng ngành, quy mô sản xuất, mức độ sử dụng vốn, công nghệ hay lao động mà mỗi chuỗi giá trị cũng mang những tính chất khác nhau thể hiện ở mối liên kết và tính chất của quan hệ giữa các mắt xích trong chuỗi. Theo xu hướng hiện nay thì các công ty thường tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa bằng việc thiết lập hai mạng lưới kinh tế toàn cầu.
Một là chuỗi giá trị do người sản xuất chi phối và hai là chuỗi giá trị do người mua chi phối.