Chương 1 Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng dệt may sau khi Việt Nam gia nhập WTO 1. lý luận chung về xuất khẩu hàng dệt may 1.1 Khái niệm hàng dệt may xuất khẩu Sản phẩm dệt may đưa ra thị trường nước ngoài để bán gọi là hàng dệt may xuất khẩu, hoặc sản phẩm dệt may của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được sản xuất trong các khu chế xuất bán ra tại thị trường trong nước thì cũng được gọi là hàng dệt may xuất khẩu. Phân loại hàng dệt may xuất khẩu 1.Theo cách phân chia của dữ liệu hải quan về hàng dệt may xuất khẩu gồm bốn nhóm 1. Phân loại theo công dụng của sản phẩm thì hàng dệt may chia ra 1.
Phân loại theo sản phẩm của các doanh nghiệp trong lĩnh vực Dệt - May 1. Phân loại theo thu nhập của người tiêu dùng trên thị trường 1. Phân loại hàng dệt may xuất khẩu theo nhóm hàng quản lý bằng hạn ngạch và phi hạn ngạch 1. Phân loại hàng dệt may theo mã số hải quan 1.
Đặc điểm của hàng dệt may xuất khẩu Một là: Về nhu cầu và khả năng tiêu thụ Hai là: Về thị trường Ba là: Về công nghệ sản xuất tạo nên sản phẩm dệt may Bốn là: Đặc điểm về mức độ hấp dẫn của sản phẩm dệt may về mẫu mã, mầu sắc, kiểu dáng, chất liệu, phụ liệu 1. Nội dung cơ bản của xuất khẩu hàng dệt may 1. Thị trường xuất khẩu Mở cửa thị trường là mục đích quan trọng nhất của WTO cũng như GATT trước đây. Khái niệm mở cửa thị trường là rất rộng miêu tả mức độ mà hàng hoá và dịch vụ có thể xâm nhập và cạnh tranh bình đẳng với sản phẩm và dịch vụ sản xuất tại chỗ ở một thị trường khác.
Sản phẩm dệt may xuất khẩu Đứng trước nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao và da dạng của hàng hoá dệt may và khoa học công nghệ ngày một phát triển - Sự phát triển của sợi tổng hợp và nhất là ở các nước Đông á và Đông Nam á cũng như năng suất trồng bông sợi ở các nước châu Phi. Trước đòi hỏi mới, nhiều nước phát triển cam kết loại bỏ các hạn chế đối với sản phẩm dệt may từ các nước đang phát triển 1. Kim ngạch xuất khẩu Với quá trình hình thành và phát triển của hiệp định dệt may của WTO đến nay đã đạt được mục tiêu mở rộng thị trường và cắt bỏ hạn ngạch tạo thuận lợi cho các nước đang phát triển tăng lượng hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường các nước phát triển. Do vậy đã làm cho kim ngạch xuất khẩu đối với các nước đang phát triển tăng trưởng nhanh chóng.
Giá cả xuất khẩu Thực hiện giá cả xuất khẩu trên cơ sở đàm phán và thoả thuận giữa 2 bên mua và bán (xuất và nhập) để hình thành hợp đồng. Việc kiểm tra, kiểm soát về giá cả cùng căn cứ vào những ký kết hợp đồng. Cạnh tranh trong xuất khẩu hàng dệt may Điểm nổi bật của Hiệp định dệt may là mở cửa thị trường và bỏ hạn ngạch nhập khẩu tại các thị trường trong các nước thành viên nhất là đối với thị trường các nước phát triển để nhập khẩu hàng dệt may từ các nước đang phát triển. quy định của WTO đối với hàng dệt may xuất khẩu 1.
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hiệp định về hàng dệt may tại vòng đàm phán Urugoay (Agreenment on Textile and Clothing - ATC) 1. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Tổ chức thương mại thế giới có tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). GATT là một Hiệp định ra đời tạm thời sau chiến tranh thế giới thứ hai trong trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, điển hình là Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế ngày nay. Hiệp định đa sợi của GATT (Multifibre - Agreement - MFA) v Năm 1947, GATT được thành lập, những quy định về tự do hoá thương mại của GATT có hiệu lực, tuy nhiên vẫn chưa có hiệp định nào liên quan đến hàng dệt may.
Các nước nhập khẩu hàng dệt may vẫn tìm cách viễn dẫn các điều khoản ngoại lệ của GATT để thực hiện các hạn chế mà họ áp đặt đối với nhập khẩu hàng dệt may. Hiệp định về hàng dệt may tại vòng đàm phán Urugoay (Agreement on Textile and Clothing - ATC) Từ vòng đàm phán Urugoay với sự lớn mạnh của GATT và sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới (WTO), các nước thành viên đã nhất trí đưa hàng dệt may vào khuôn khổ điều tiết chung theo các nguyên tắc của GATT/WTO như các mặt hàng khác. Quyết định này được cụ thể hoá bằng Hiệp định về hàng dệt may (Agreenment on Textile and Clothing - ATC) có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 tức là đồng thời với sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và sẽ chấm dứt khi toàn bộ sản phẩm dệt may được đưa vào tự do hoá hết (cụ thể là đến 1/1/2005). Những quy định của WTO đối với hàng dệt may xuất khẩu ( Theo Hiệp định ATC) Các nước thành viên WTO phải công bố danh mục các sản phẩm để hoà nhập.
Về cơ bản gồm 4 nhóm chính là sợi, vải, sản phẩm dệt và hàng may sẵn. Quy định về lộ trình cắt bỏ thuế quan và dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng hoá nhập khẩu của các nước thành viên. Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may 1. Phương thức cam kết Trải qua 11 năm đàm phán gia nhập WTO Việt Nam đã tiến hành hơn 200 cuộc đàm phán.
Trong đó có 14 phiên đàm phán đa phương nhằm minh bạch hoá các chính sách và đi đến cam kết các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp với các Hiệp định của WTO. Nội dung cam kết gia nhập WTO 1. Cam kết địa phương Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các Hiệp định và các quy định mang tính ràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập. Cam kết về thuế nhập khẩu 1.
Mức cam kết chung: Việt Nam đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10. Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4%, thực hiện dần trung bình trong 5 - 7 năm. Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9%, thực hiện trong 5 - 7 năm. Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn 12,6%, thực hiện chủ yếu trong vòng 5 - 7 năm.
Mức cam kết cụ thể: Có khoảng hơn 1/3 số dòng thuế sẽ phải tách giảm chủ yếu là các dòng thuế xuất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ô tô, xe máy … vẫn duy trì được mức độ bảo hộ nhất định. Cam kết về mở thị trường dịch vụ Về diện cam kết, trong Hiệp định thương mại song phương (Bilaterial Trade Agreement - BTA) với Mỹ, Việt Nam đã cam kết 8 ngành dịch vụ, khoảng 65 phân ngành. Trong thoả thuận WTO Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110.
Những cam kết đối với lĩnh vực dệt may Các thành viên WTO sẽ không áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam. Riêng trường hợp vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể có biện pháp trả đũa nhất định. Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hoá. Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quá độ là 05 năm, riêng đối với hàng dệt may thì phải bãi bỏ ngay khi gia nhập WTO.
Chương 2 Phân tích thực trạng tác động của việc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 2. Tiềm năng xuất khẩu hàng dệt may và vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với nền kinh tế quốc dân 2. Sự hình thành và phát triển hàng dệt may xuất khẩu ở Việt Nam vii Đại hội VI của Đảng năm 1986 với việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đã đưa lại cho ngành Dệt - May những động lực và định hướng phát triển mới: “Phát triển mạnh công nghiệp nhẹ, nhất là dệt, may, da giầy … Đầu tư hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, nâng cao chất lượng và sức mạnh cạnh tranh của sản phẩm. Chuyển dần việc gia công dệt may, đồ da sang mua nguyên liệu, vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu, coi trọng và nâng cao năng lực tiếp thị để mở rộng thị trường” … 2.
Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đến trước khi gia nhập WTO 2. Thực trạng mặt hàng dệt may xuất khẩu Từ năm 1998 đến nay, trừ mặt hàng vải lụa và khăn mặt tăng chậm (tỷ lệ tăng trung bình là 9,21% và 12,41%). Còn lại các mặt hàng khác đều tăng mạnh (sợi: 44,14%, quần áo dệt kim: 41.25, quần áo may sẵn: 26,44%). Điều này được lý giải từ thực tế là ngành may có suất đầu tư thấp, quay vòng vốn nhanh và có khả năng thâm nhập thị trường xuất khẩu 2.
Thị trường xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam Cho đến nay sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam đã được xuất khẩu tới thị trường hơn 60 nước trên thế giới. Phần lớn hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường có hạn ngạch như EU, Thổ Nhĩ Kỳ, Canađa … trong đó EU là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam và các thị trường xuất khẩu quan trọng khác như Mỹ, Nhật Bản, các nước SNG và Đông ÂU … 2. Kim ngạch xuất khẩu Năm 1996, tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may chỉ đạt 1.150 triệu USD, đến năm 2004 đã gấp gần 4 lần đạt 4,386 triệu USD. Trong thời kỳ này, năm 2002 có tốc độ phát triển cao nhất là 39,31%.
Đó là dấu hiệu khả quan cho sự phát triển xuất khẩu hàng dệt may trong thời gian sau. Năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á nên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chỉ có 7,48% so với năm 1997.