CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE XUAT KHẨU NONG SAN TRONG BOI CANH HOI NHAP WTO 1.1 Một số van đề ly luận chung 1.1 Khái niệm về xuất khẩu và xuất khẩu nông sản 1.1 Khái niệm về xuất khẩu Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về xuất khẩu. Xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dich vụ cho nước ngoài [18]. Xuất khẩu là việc đưa hàng hóa từ nước này sang nước khác. Xuất khẩu hàng hóa bắt nguồn từ sự phân công lao động quốc tế và sự ton tại của thị trường ngoài nước.
Nhưng đưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì xuất khâu lại được hiểu theo một góc độ khác: Xudt khẩu hàng hoá bị dùng làm thủ đoạn bóc lột những nước kém phát triển bằng cách trao đổi không ngang giá, bị các nước lớn dùng làm thủ đoạn nô dich các nước nhược tiến về chính trị [6]. Xuất khẩu là sự luân chuyén hang hoá ra nước ngoài theo những thoả thuận giữa các đối tác với nhau về pháp lý, phong tục, điều kiện kinh tế (bao gồm: chất lượng, kỹ thuật.) và thông lệ quốc tế mà đôi bên đã thoả thuận [25]. Như vậy, xuất khâu là hoạt động cơ bản của ngoại thương, có lịch sử phát triển từ rất lâu đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Ban đầu hình thức cơ bản chi đơn thuần là hoạt động trao đôi hàng hóa giữa các quốc gia.
Ngày nay nó đã phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, được biéu hiện dưới nhiều hình thức. Trong xu thé toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động xuất khâu diễn ra trên phạm vi rộng khắp trong hầu hết tất cả các ngành, lĩnh vực của nên kinh tế quốc dân, đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế với tỉ trọng ngày cảng cao.2 Khái niệm xuất khẩu nông sản Xuất khâu nông sản là hoạt động xuất khâu các sản phẩm của ngành nông nghiệp từ quốc gia này sang quốc gia khác. Tuy nhiên việc xuất khẩu hàng nông sản cũng có những khác biệt so với xuất khẩu các mặt hàng khác do các đặc trưng của hàng nông sản như: Tính thời vụ: Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, do phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu, đặc trưng của từng loại hàng nông sản. Tinh khu vực: Sự khác biệt về điều kiện đất đai, khí hậu cho ra những sản phẩm nông nghiệp cũng khác nhau mà vùng khác không thé có được sản phẩm cùng chất lượng và sản lượng.
Tinh phân tan: Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mang tính khu vực cao nên hàng nông sản có thể phân tán ở nhiều vùng nông nghiệp khác nhau nên tạo thành trở ngại trong việc thu mua hàng nông sản cho các doanh nghiệp. Tính tươi sống: Hàng nông sản gồm cây trồng hoặc vật nuôi, với bản chất sinh học của chúng sẽ chịu tác động bởi các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, môi trường.có thé ảnh hưởng tới kết quả thu hoạch sản phẩm. Do đó, khác với các mặt hàng khác, hàng nông sản thường dé bị hư hỏng hoặc kém pham chat. Tính không 6n định: Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào khí hậu, môi trường nên nông sản thường không ổn định (được mùa, mất mùa).
Các sản phẩm nông sản thiết yếu như Gạo, cà phê, cao su, tiêu,. là những hàng hóa thiết yếu đối với mỗi quốc gia, nên sẽ chịu các chính sách hoạch định của chính phủ trong việc sản xuất, xuất khẩu, dự trữ, .2 Các yếu tổ ảnh hướng tới xuất khẩu và xuất khẩu nông sản Hoạt động xuất khâu chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố khác nhau thuộc cả quốc gia xuất khâu, quốc gia nhập khẩu và môi trường kinh doanh quốc gia và môi trường kinh doanh quốc tế. Các yếu tô chính chi phối đến hoạt động xuất khẩu thường là: Các yếu tổ về chính trị và luật pháp Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới hoạt động kinh doanh nói chung cũng như xuât khâu nói riêng. Yếu tổ chính trị đóng vai trò khuyến khích hoặc hạn chế quá trình quốc tế hóa hoạt động kinh doanh.
Các chính sách của Chính phủ có thê làm tăng sự liên kết thị trường và thúc day tốc độ tăng trưởng hoạt động xuất khẩu qua các biện pháp như dỡ bỏ các hàng rào thuế quan, phi thuế quan, thiết lập các mối quan hệ trong cơ sở hạ tầng của thị trường. Khi thiếu sự ôn định về chính trị cản trở sự phát triển kinh tế của quốc gia và gây tâm lý không an tâm cho các nhà kinh doanh. Yếu tố pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khâu. Mọi thành phần xuất khẩu đều phải tuân thủ các quy định, hay thông lệ do Chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế đề ra.
Trong mỗi giai đoạn, Chính phủ có thể áp dụng hay điều chỉnh chính sách ngoại thương khác nhau, do đó các nhà kinh doanh xuất khẩu cần nắm được những sự thay đôi nay dé đảm bảo lợi ich cho doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu, trong khi đó các nhân tố chi phối lại rất nhiều, do đó các doanh nghiệp cần phân tích và hiểu rõ các yếu tô thiết thực nhất dé đưa ra các đối sách phù hợp như: tỷ giá hồi đoái, tỷ suất ngoại té, thuế quan, hạn ngạch và trợ cấp xuất khau.va đồng thời cũng cần nắm được mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn, bởi dựa trên những định hướng này mà Chính phủ sẽ điều chỉnh các công cụ kinh tế cho phủ hợp. Các yếu tố văn hóa, xã hội Mỗi hoạt động của con người đều phù hợp trong một điều kiện xã hội nhất định. Nền văn hóa tạo ra cách song của mỗi cộng đồng, từ đó chi phối tới cách thức tiêu dùng, thứ tư ưu tiên cho các nhu cầu sống.
Chính vì vậy, để thành công trong xuất khẩu, các nhà kinh doah cần nghiên cứu về yêu tô văn hóa ở quốc gia, lãnh thổ trước khi quyết định đầu tư hoặc xuất khẩu. Các yếu tố công nghệ, cơ sở hạ tầng và tự nhiên Các yếu tố về tự nhiên có ảnh hưởng đến xuất khâu hàng hóa bao gồm: khoảng cách địa lý giữa các quốc gia do tác động tới chi phi vận tai, thời gian thực hiện hợp đồng, sự lựa chọn nguồn hang, thị trường; vi tri của các quốc gia ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, thị trường tiêu thụ; các yếu tố về thời tiết, thiên tai chỉ phối tới thời gian thực hiện hợp đồng. Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặt biệt là công nghệ thông tin cho phép các nhà xuất khẩu nắm bắt thông tin nhanh chóng và chính xác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi kiểm soát hàng hóa, giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khâu. Yếu tố công nghệ còn tác động đến quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng xuất khẩu, chi phối các lĩnh vực bổ trợ khác cho xuất khẩu như cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông, hệ thống vận tải, ngân hàng, các dịch vụ hỗ trợ khác (hệ thống bảo hiểm, kiểm soát chất lượng.3 Vai trò của xuất khẩu hàng nông sản đối với Việt Nam Với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp nên sản xuất và xuất khâu hàng nông sản của Việt Nam có lợi thế lớn do có nhiều điều kiện phát triển như: đất đai trồng trọt rộng lớn với điện tích đất nông nghiệp từ 10 -12 triệu ha, chất lượng đất có kết cau tơi xóp, nhiều chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng: khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ 4m cao, khí hậu có tinh đa dạng phân hóa theo khu vực nên thuận lợi phát triển nhiều loại sản phẩm nông sản; nhân lực tham gia trong nông nghiệp đông, cần cù và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và các chính sách của nhà nước ủng hộ phát triển nông nghiệp đặc biệt các giống cây lâu năm, đem lại hiệu quả kinh tế cao như cà phê, cao su.
Dựa vào những lợi thế trong việc sản xuất nông nghiệp trên, xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam cũng đóng vai trò lớn: Góp phan vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, phục vụ quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước Dé trở thành một quốc gia phát triển và nâng cao đời sống của người dân, Việt Nam cần tiến hành công cuộc Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa cần có một lượng vốn rất lớn, đặc biệt là ngoại tỆ để nhập khẩu thiết bị công nghệ tiên tiến. Thực tế cho thấy quốc gia có thé huy động nguôn vôn qua các kênh chính : 10 + Đâu tư nước ngoài hoặc vay từ các nguôn viện trợ. + Thu từ hoạt động xuất khẩu.
+ Thu từ các hoạt động du lịch trong nước. Trong đó việc thu ngoại tệ từ xuất khẩu là một hoạt động mang tính chủ động cao và lâu dài, không bị phụ thuộc nhiều vào các quốc gia hoặc tổ chức cho vay. Với xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp chủ đạo, với những lợi thế từ nông nghiệp, Việt Nam có thé day mạnh quá trình công nghiệp hóa dựa vào xuất khẩu nông sản bởi xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ, tao nguồn von dé nhap khau công nghệ hiện dai, giúp tăng trưởng kinh tế. Thực tế đã chứng minh, giá trị kinh tế từ xuất khẩu hàng nông nghiệp vẫn luôn đem lại hiệu quả cao.
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam tích cực mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia trên toàn thé giới, đem lại những hiệu qua lớn về kinh tế. Theo số liệu của Tổng cục thong ké, tong kim ngach xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng vượt bậc, từ 2,3 tỷ USD (năm 1990) lên 36,4 tỷ USD (năm 2002) và năm năm 2014 đạt 150,19 tỷ USD. Kim ngạch xuất khâu hầu như liên tục tăng, chỉ riêng năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu giảm nhẹ (8,9%) so với 2008 nhưng đến 2010 đã tăng trưởng trở lại, đạt mức 72,19 tỷ USD, tăng 26,1% so với 2009 ( xem số liệu trong bảng 1.