CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 1. KHÁI QUÁT VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 1. Khái niệm về chuỗi giá trị toàn cầu Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị không phải là một khái niệm quá mới, nó đã xuất hiện vào những năm 80 của thế kỷ trước. Năm 1985, Michael Porter giới thiệu và ra mắt lần đầu tiên cuốn sách bán chạy nhất của ông là “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”.
Trong cuốn sách này, Michael Porter định nghĩa chuỗi giá trị như sau: “Chuỗi giá trị bao gồm tất cả những hoạt động cần thiết có thể làm gia tăng giá trị của một sản phẩm từ khâu cung cấp nguyên liệu để sản xuất, chế biến, lưu kho hàng hóa, marketing cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng và cung cấp dịch vụ hậu mãi sau sử dụng”. Theo đó, mỗi sản phẩm khi tham gia vào các hoạt động trong chuỗi sẽ thu được một giá trị nhất định nào đó. Còn trong quan điểm của Kaplinsky Raphael (2002), chuỗi giá trị được thể hiện rằng: “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng”. Từ đó có thể nhận thấy rằng, chuỗi giá trị theo quan điểm của Kaplinsky Raphael không chỉ còn nằm giới hạn trong hoạt động của một công ty nữa mà đã được mở rộng ra, rằng chuỗi giá trị là tất cả các hoạt động liên quan cần thiết, các hoạt động này được thực hiện ở bất kỳ đâu, để đưa ra giá trị cuối cùng của sản phẩm dịch vụ.
Như vậy, từ hai khái niệm của hai nhà nghiên cứu, chuỗi giá trị có thể hiểu theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng: Theo nghĩa hẹp: “Chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động trong nội bộ một doanh nghiệp (DN) để tạo ra một sản phẩm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng nhất định, tạo 7 thành một chuỗi nối kết nhà sản xuất với người tiêu dùng, bổ sung giá trị cho nhau làm nâng cao giá trị của sản phẩm cuối cùng.” Theo nghĩa rộng: “Chuỗi giá trị không chỉ bó hẹp trong phạm vi hoạt động của một DN mà nó sẽ bao gồm sự kết nối giữa nhiều DN khác nhau, nhiều vùng lãnh thổ và nhiều quốc gia khác từ việc cung cấp đến tiêu thụ. Mục tiêu chính là tối đa hóa giá trị gia tăng cho sản phẩm cuối cùng.” Nhưng tựu chung, dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, về cơ bản, bản chất của chuỗi giá trị vẫn là sự liên kết bổ sung giữa các giai đoạn khác nhau để tạo ra giá trị cuối cùng cho sản phẩm. Về cấu trúc trong CGT này, Porter chia các hoạt động thành hai nhóm với 9 mắt xích cơ bản tạo nên giá trị của hoạt động kinh doanh, trong đó có 5 mắt xích chính và 4 mắt xích phụ, được thể hiện qua (hình 1. Mô hình chuỗi giá trị của Porter Nguồn: Michael Porter (1985) Hoạt động cơ bản hay hoạt động chính là các hoạt động trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm, gồm: Hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần đầu ra, marketing & bán hàng và dịch vụ.
8 Hậu cần đầu vào: Bao gồm các hoạt động tối ưu hóa dòng nguyên vật liệu, linh kiện và thành phẩm từ nguồn cung ứng toàn cầu đến các cơ sở sản xuất, đảm bảo sự liên tục và hiệu quả cho hoạt động sản xuất. Đóng vai trò xương sống trong GVC, kết nối các nhà cung cấp, nhà sản xuất và nhà phân phối trên khắp thế giới. Vận hành: Bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi các nguồn lực đầu vào thành sản phẩm đầu ra đáp ứng nhu cầu của thị trường. Nhóm hoạt động này rất phong phú và đa dạng, phụ thuộc nhiều vào loại hình và đặc thù sản xuất.
Hoạt động này tích hợp từ thiết kế, sản xuất thử, thử nghiệm đến sản xuất hàng loạt một cách hiệu quả. Vận hành có thể diễn ra ở nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ và quản lý linh hoạt. Hậu cần đầu ra: Bao gồm các hoạt động liên quan đến việc thu thập, lưu trữ và vận chuyển sản phẩm hoàn chỉnh đến người tiêu dùng. Điều này bao gồm xử lý đơn hàng, lập lịch trình và tổ chức vận chuyển để đảm bảo sản phẩm đến tay khách hàng một cách chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí.
Marketing và bán hàng: Hai lĩnh vực này phối hợp chặt chẽ với nhau, bao gồm các hoạt động thiết yếu sau: Nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm, hoạch định chính sách giá cả, thiết lập kênh phân phối, xúc tiến hỗ trợ bán hàng. Dịch vụ: Đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng giá trị sản phẩm và nâng tầm trải nghiệm khách hàng sau khi mua. Dịch vụ bao gồm các hoạt động như: Hỗ trợ trước và sau khi mua, bảo hành và bảo dưỡng, hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn chuyên sâu… Hoạt động hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị cho sản phẩm và thúc đẩy sự phát triển chung của doanh nghiệp. Các hoạt động này bao gồm:: cấu trúc hạ tầng của doanh nghiệp, quản trị nguồn nhân lực, phát triển công nghệ, thu mua Cấu trúc hạ tầng của doanh nghiệp: Đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ hoạt động kinh doanh, bao gồm: Thiết lập định hướng, chiến lược và điều phối hoạt động chung của doanh nghiệp, hoạch định chiến lược, kiểm soát và đảm bảo chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
9 Quản trị nguồn nhân lực: Là yếu tố then chốt cho sự thành công của doanh nghiệp, bao gồm các hoat động như: Tìm kiếm và thu hút những nhân tài phù hợp với vị trí công việc và văn hóa doanh nghiệp; đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng và kiến thức cho nhân viên; thu hút và giữ chân nhân tài bằng chế độ đãi ngộ cạnh tranh. Phát triển công nghệ: Là chìa khóa để nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo ra lợi thế cạnh tranh, bao gồm: Nghiên cứu và phát triển (R&D), trình độ công nghệ sản xuất, sử dụng các công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất. Thu mua: Đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn cung ứng nguyên vật liệu và dịch vụ đầu vào cho doanh nghiệp, bao gồm: Tìm kiếm và lựa chọn nhà cung cấp, quản lý hoạt động thu mua, xây dựng mối quan hệ hợp tác lâu dài với nhà cung cấp. Các hoạt động này rất đa dạng có mối liên kết chặt chẽ với nhau.
Giá trị tạo ra của chuỗi bao gồm tổng các giá trị tạo ra tại mỗi công đoạn hoạt động của chuỗi. Đến nay, CGT tổng quát của Porter là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất để tìm ra lợi thế cạnh tranh, chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định chiến lược và quản lý điều hành DN. Chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain - GVC) Xu hướng toàn cầu hóa cùng với cuộc cách mạng nghiệp 4.0 đã tạo nên cạnh tranh diễn ra trên quy mô ngày càng rộng và phức tạp hơn. Điều này buộc các công ty phải tìm kiếm thị trường lớn hơn, tìm kiếm các nguồn lực và năng lực tốt hơn (lao động, nguồn nguyên liệu sản xuất…) với chi phí rẻ hơn ở nhiều quốc gia và các vùng lãnh thổ khác nhau.
Các hoạt động sản xuất của hầu hết các hàng hóa, dịch vụ không chỉ bó hẹp trong phạm vi một DN mà đều vượt ra ngoài biên giới quốc gia, mở rộng trên phạm vi toàn cầu, tạo thành chuỗi với mục đích cuối cùng là tạo được giá trị gia tăng hiệu quả nhất cho các chủ thể kinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào khung khái niệm CGT của Porter M. để phân tích toàn cầu hóa như Gereffi G. Sau đó hai nhà khoa học Mỹ là 10 Kaplinsky R.
(2001) đã mở rộng phạm vi của CGT của Porter và đưa ra khái niệm: “CGT toàn cầu là một dây chuyền sản xuất kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia, chủ yếu là các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế chế tạo tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng”. Hiểu một cách đơn giản “CGT toàn cầu là tập hợp gồm nhiều công đoạn khác nhau làm gia tăng giá trị của một ngành sản xuất nhất định trong đó doanh nghiệp của các quốc gia tham gia bằng cách chuyên môn hóa theo công đoạn khác nhau như R&D, cung cấp nguyên liệu đầu vào, thiết kế sản phẩm, sản xuất, phân phối…Các hoạt động có thể do một doanh nghiệp tự thực hiện hoặc được chia cho nhiều doanh nghiệp trong phạm vi một hoặc nhiều khu vực địa lý trên toàn cầu. Mô hình chuỗi giá trị toàn cầu của Porter Nguồn: Micheal Porter (1985) Như vậy, CGT toàn cầu vẫn mang bản chất của một CGT, nó chỉ khác là các công đoạn trong chuỗi được tiến hành vượt qua biên giới của một quốc gia. Điều này có nghĩa là bất kỳ hoạt động nào tham gia vào quá trình sản xuất một sản phẩm xuất khẩu đều có thể coi là đã tham gia vào CGT toàn cầu.
Chính vì thế để phát triển và mở rộng ra các thị trường trong khu vực hay toàn cầu thì nhất thiết phải tham gia vào CGT toàn cầu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đặc điểm của chuỗi giá trị toàn cầu Chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, là đại diện tiêu biểu cho mô hình kinh doanh toàn cầu hóa với sự tham gia của nhiều quốc gia, nhiều loại hình doanh nghiệp và sở hữu. GVC có thể hình thành ở bất kỳ lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào, tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế mở rộng hoạt động và tận dụng lợi thế cạnh tranh trên toàn cầu. Trước hết, “chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) là đại diện sáng giá của mô hình kinh doanh toàn cầu, với sự tham gia của nhiều quốc gia, nhiều loại hình doanh nghiệp, nhiều loại hình sở hữu”.
GVC vượt qua ranh giới quốc gia, kết nối các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều quốc gia khác nhau. Các quốc gia tham gia GVC tập trung vào những hoạt động mà họ có lợi thế cạnh tranh, tạo ra sự chuyên môn hóa và hiệu quả cao.