Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các lý thuyết nền tảng liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thuật ngữ CSR đã chính thức xuất hiện cách đây hơn 70 năm, khi Howard R Bowen (1953) [132] công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân”. Kể từ đó, hoạt động nghiên cứu về CSR đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ với rất nhiều học thuyết khác nhau xoay quanh vấn đề then chốt là bản chất hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Có thể kể đến các học thuyết như: • Học thuyết về giá trị cổ đông (Shareholder Value Theory) Đây là học thuyết mà Milton Friedman (1970) [188], một nhà kinh tế học lỗi lạc đã đề cập trên tờ New York Times trong chủ đề bài báo Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tăng lợi nhuận cho chính doanh nghiệp và trong công trình Chủ nghĩa tư bản và Tự do của ông cũng được xuất bản sau đó (Milton Friedman, 2002) [189]. Friedman cho rằng "doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cổ đông, trong khuôn khổ luật chơi của thị trường là cạnh tranh trung thực và công bằng". Điều đó nghĩa là ngoài trách nhiệm pháp lý buộc phải tuân thủ thì doanh nghiệp chỉ thực hiện CSR với mục đích duy nhất là nâng cao khả năng sinh lời cho các cổ đông - những người chủ sở hữu mà công ty đã lựa chọn để làm đại diện. Trên thực tế, ngày nay lý thuyết này vẫn có tính thuyết phục nhất định bởi bản chất kinh tế và động cơ lợi nhuận không thể thay đổi của các doanh nghiệp.
• Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) Theo Lý thuyết thể chế, sự thay đổi trong hành vi của cá nhân hay các hoạt động trong tổ chức có thể bắt nguồn từ các quy định của tổ chức, của xã hội; có thể bắt nguồn từ nhận thức của cá nhân, nhận thức của tổ chức về tính hợp pháp trong hành vi và hoạt động của mình; có thể bắt nguồn từ nhận thức thông qua quá trình bắt chước lẫn nhau trong quá trình tương tác lẫn nhau giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Trong nghiên cứu của Scott (1995) thì áp lực về thể chế bao gồm: áp lực cưỡng 12 ép, áp lực quy chuẩn, áp lực mô phỏng [231]. Áp lực cưỡng ép chính là áp lực từ những quy định pháp lý của cơ quan nhà nước buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ; áp lực quy chuẩn là áp lực đến từ các chuẩn mực chung, các quy tắc chung, các giá trị chung như các yếu tố thuộc về đạo đức kinh doanh được các tổ chức và xã hội chấp nhận; còn áp lực mô phỏng là áp lực đến từ quá trình bắt chước, học hỏi từ phương pháp kỹ thuật, cách thức tổ chức quản lý.của các tổ chức, doanh nghiệp được xem là thành công, là chuẩn mực được xã hội chấp nhận. Lý thuyết thể chế giải thích việc thực hiện CSR của các doanh nghiệp cần có các quy định pháp luật (áp lực cưỡng ép), các quy tắc ứng xử trong kinh doanh (áp lực quy chuẩn) và các hình mẫu để doanh nghiệp thực hiện theo (áp lực mô phỏng).
Sự kết hợp của ba yếu tố này vừa là áp lực vừa là động lực để các doanh nghiệp thực hiện CSR. • Lý thuyết dựa vào nguồn lực (Resource-Based View) Lý thuyết dựa vào nguồn lực cho rằng các doanh nghiệp trên thị trường tạo ra lợi thế cạnh tranh khác nhau vì sở hữu các nguồn lực khác nhau (Conner và Prahalad, 1996) [87]. Các nguồn lực đó có thể là các nguồn lực về tài chính như: nguồn vốn, các tài sản cố định hữu hình và cũng có thể là các nguồn lực phi tài chính như: danh tiếng, thương hiệu, hệ thống cơ sở dữ liệu, mạng lưới đối tác, văn hoá doanh nghiệp và các năng lực khác như kiến thức, khả năng cải tiến sản phẩm/dịch vụ hay khả năng đổi mới sản xuất (Vitolina và Cals, 2013; Sarjana, 2017) [61; 239]. Với lý thuyết này, doanh nghiệp thông qua việc kiểm soát và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cả tài chính và phi tài chính để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như lồng ghép hoạt động liên quan đến CSR; từ đó, doanh nghiệp có thể tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh của mình và đóng góp cho xã hội.
• Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) Lý thuyết này tập trung giải quyết các câu hỏi như: các bên liên quan của doanh nghiệp gồm những ai, họ theo đuổi những lợi ích nào, và các chiến lược quản trị nào của doanh nghiệp có thể đáp ứng được yêu cầu của các bên liên quan này. Như vậy, lý thuyết này giúp giải thích ảnh hưởng của các bên liên quan lên quyết định quản lý; đồng thời giúp giải thích các mô hình CSR, các động lực liên quan đến việc thực hành CSR của các doanh nghiệp (Mitchell và cộng sự, 1997) [191]. 13 Khái niệm cổ điển nhất về các bên liên quan được giới thiệu lần đầu bởi tác giả R. Edward Freeman (1984) trong tác phẩm Quản trị chiến lược - cách tiếp cận các bên hữu quan.
Theo Edward Freeman, các bên liên quan "là bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt mục tiêu của tổ chức". Theo đó, có 4 bên liên quan là: (1) Nhóm quyền lực bao gồm: chính phủ, các cơ quan Nhà nước liên quan, cổ đông và hội đồng quản trị; (2) Đối tác kinh doanh bao gồm: người lao động, nhà cung ứng, hiệp hội thương mại và các nhà cung cấp dịch vụ; (3) Nhóm khách hàng; (4) Các nhóm có ảnh hưởng bên ngoài như: cộng đồng, truyền thông và các bên khác [219]. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp cụ thể, cũng như phụ thuộc vào quan điểm của từng học giả mà trong các nghiên cứu sau này về CSR thì cách xác định các bên liên quan rất khác nhau. Ví dụ như, Clarkson (1995) [86] thì phân chia các bên liên quan thành: các bên liên quan chính (sơ cấp) và các bên liên quan phụ (thứ cấp).
Các bên liên quan sơ cấp là những cá nhân, nhóm hoặc tổ chức có liên quan đến các giao dịch về tiền của doanh nghiệp, ví dụ: cổ đông, người lao động, khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng,.Còn các bên liên quan thứ cấp là những cá nhân, nhóm hoặc tổ chức liên quan đến các giao dịch về xã hội của doanh nghiệp, ví dụ như: đối thủ cạnh tranh, nhóm hoạt động xã hội, các tổ chức phi chính phủ, truyền thông. Ngoài ra, Carroll và Nasi (1997) [78], Wheeler và Sillanpaa (1997) [96] hay Crowther (2004) [91] cũng có cách phân chia cách bên liên quan khác nhau, thể hiện trong Bảng 1. Các bên liên quan đối với doanh nghiệp Lý Carroll và Nasi Crowther Clarkson Wheeler và Sillanpaa thuyết (1997) (2004) (1995) (1997) Loại 1 Bên trong Tự nguyện Cấp 1 Xã hội cấp 1 Người lao động Cổ đông, Cổ đông, Cổ đông, nhà đầu tư nhà đầu tư nhà đầu tư Chủ sở hữu Người lao động Người lao động Người lao động, nhà quản lý Nhà quản lý Nhà quản lý Khách hàng Khách hàng Khách hàng Nhà cung ứng Cộng đồng địa phương Nhà cung ứng Chính phủ Nhà cung ứng và các đối tác kinh doanh Các cộng đồng 14 Loại 2 Bên ngoài Không tự nguyện Cấp 2 Phi xã hội cấp 1 Khách hàng Các cá nhân Truyền thông Môi trường tự nhiên Đối thủ Các cộng đồng Các nhóm chung Các thế hệ tương lai cạnh tranh lợi ích Chính phủ Môi trường Các loài khác sinh thái con người Các nhóm hoạt Các thế hệ động xã hội tương lai Truyền thông Loại 3 Xã hội cấp 2 Chính quyền và các nhà lập pháp Thể chế dân sự Các nhóm hành động vì xã hội Các nhà phê bình học thuật và truyền thông Các tổ chức kinh doanh Đối thủ cạnh tranh Loại 4 Phi xã hội cấp 2 Các nhóm hành động vì môi trường Các tổ chức vì phúc lợi cho động vật Nguồn: Peggy Chiu (2009) [211] Tuy có những cách phân chia khác nhau về các bên liên quan nhưng các học giả đều có quan điểm chung rằng một công ty chỉ có thể tồn tại nếu nó có khả năng đáp ứng nhu cầu và làm hài hoà lợi ích của các bên liên quan. Lý do là các bên liên quan cung cấp các nguồn lực như vốn, lao động và doanh thu (Sweeney, 2009) [243].
Nếu các công ty hành động vô trách nhiệm với nhân viên, khách hàng và xã hội thì họ có nguy cơ mất đi những nguồn lực quan trọng này. Bên cạnh đó, các bên liên quan vừa là người hưởng lợi tiềm năng vừa là người chịu rủi ro cao liên quan đến những hành vi vô trách nhiệm, chẳng hạn như các sản phẩm kém chất lượng, khai thác lao động và môi trường tự nhiên quá mức (Post và cộng sự, 2002) [216]. Vì vậy, họ sẽ đặt ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải hành động có trách nhiệm. 15 • Học thuyết Tạo lập giá trị chung (Creating Shared Value Theory) Học thuyết này do Michael Porter và Mark Kramer đưa ra năm 2002, thể hiện quan điểm cần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc lồng ghép CSR vào chiến lược của doanh nghiệp.
Dựa trên lý thuyết về lợi thế cạnh tranh (Michael E. Porter, 1998), Porter và Kramer cho rằng đầu tư trong các hoạt động mang tính xã hội là cách tốt để cải thiện bối cảnh cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo ra giá trị xã hội. Porter và Kramer đề xuất một cách nhìn mới trong việc xem xét mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội, trong đó cần thấy rằng sự tăng trưởng của doanh nghiệp và phúc lợi xã hội không phải là một trò chơi có tổng bằng không (zero-sum game). Porter và Kramer cho rằng phải nhận thức CSR như một cơ hội chứ không phải là thiệt hại và nhận định rằng với tư duy như vậy doanh nghiệp mới có thể đạt được thành công trong cạnh tranh.
Quan điểm này nhìn nhận việc triển khai CSR cần mang tính chiến lược bởi vì doanh nghiệp cần kinh doanh trong một môi trường xã hội lành mạnh, ngược lại một xã hội muốn phát triển cần phải có những doanh nghiệp thành công. Sự phụ thuộc lẫn nhau này cũng đồng nghĩa với việc các quyết định kinh doanh và các chính sách xã hội sẽ cùng nhau tạo lập các giá trị chung. Chính vì vậy, doanh nghiệp thay vì nghĩ rằng "phải thực hiện trách nhiệm xã hội" thì cần suy nghĩ về việc "lồng ghép lợi ích xã hội và lợi ích doanh nghiệp" với nhau [186].