Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ TÍNH TÍCH CỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 1. Lịch sử nghiên cứu về tự học và tính tích cực tự học 1. Trên thế giới V. Ôkôn trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” cho rằng tính tích cực là lòng ham muốn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động, chủ thể đã ý thức được mục đích của hành động.
Khi nghiên cứu về hoạt động tự học tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các kỹ năng tự học. Ông cho rằng để tự học có hiệu quả thì người học phải có kế hoạch tự học. Kế hoạch học tập sẽ giúp người học chủ động trong hoạt động và thể hiện tác phong khoa học trong tự học của bản thân. Rubakin trong tác phẩm “Tự học như thế nào” đã nhấn mạnh vai trò của thái độ tích cực tự học trong việc chiếm lĩnh tri thức của học sinh.
Tác giả cho rằng để học sinh tích cực, chủ động trong quá trình tự học thì cần phải giáo dục động cơ học tập đúng đắn [23]., Sacovich M trong tác phẩm “Phương pháp giảng dạy các môn học kinh tế” đã khẳng định: theo bản chất của lý luận dạy học, tự học của sinh viên bao gồm toàn bộ môi trường học tập được tổ chức bởi giáo viên với mục tiêu hướng đến tự đào tạo cho người học. Tự học là hoạt động học tập diễn ra mà không có sự tham gia trực tiếp của người dạy [13]. Trong cuốn “Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học”, A.Goroxepxki đã tổng kết kinh nghiệm công tác cá nhân của mình trong các trường đại học và đã đưa ra một số đề nghị về phương pháp học tập của sinh viên đại học trên mấy vấn đề cơ bản: nghe và ghi chép bài giảng; đọc và ghi tài liệu; chuẩn bị xêmina; làm bài tập nghiên cứu và luận văn tốt nghiệp; chuẩn bị kiểm tra và thi; tổ chức lao động trí óc và kế hoạch làm việc. Retstxke trong cuốn sách “Học tập hợp lí” đã viết về vấn đề bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại học mới được tuyển vào hệ tập 11 trung của các trường đại học.
Cuốn sách nhấn mạnh “Học tập ở đại học là quá trình phát triển con người, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố…” và “việc hoàn thành có kết quả những nhiệm vụ học tập đòi hỏi phải đấu tranh với bản thân và tập thể một cách có phê phán và đầy sáng tạo trong quá trình học tập” [Dẫn theo Nguyễn Cảnh Toàn – Lê Khánh Bằng, 28]. Nhà triết học, nhà văn hóa, nhà giáo dục Trung Quốc - Khổng Tử, ngay từ trước công nguyên đã quan tâm đến dạy học làm sao phải phát huy được tính tích cực suy nghĩ cho trò. Ông nói: “Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa. Hoặc ông yêu cầu học trò cố gắng tự suy nghĩ: “Học mà không suy nghĩ thì uổng công vô ích, suy nghĩ mà không học thì nguy hiểm”.Kharlamôp trong tác phẩm “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào”, I.
Kharlamôv đã khẳng định “Học tập là quá trình nhận thức tích cực của học sinh” trong đó giáo viên là người tổ chức và hướng dẫn việc học tập tạo nên điều kiện cần thiết để kích thích hoạt động nhận thức của học sinh. Học sinh phải nắm vững kiến thức và tự tổ chức việc học tập của mình, tự tái tạo tri thức của loài người thành tri thức của mình, qua đó tính tích cực được hình thành và phát triển. Theo ông tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả hoạt động trí tuệ của học sinh, ông đã nêu lên một loạt những phương pháp, những thủ thuật như phép tương tự, phân tích - tổng hợp, quy nạp, tìm nguyên nhân gây ra hiện tượng, nhấn mạnh mâu thuẫn chứa đựng trong tài liệu nhằm kích thích và phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh [10]. Lêvitov đã chỉ ra một số thành phần tâm lý cơ bản của sự lĩnh hội, các thành phần này có mối quan hệ qua lại với nhau, nếu thiếu tính tích cực học tập của học sinh sẽ không đạt yêu cầu đào tạo.
Tức là, trong quá trình học tập người học phải tự học, tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức. Trong các thành phần tâm lý của sự lĩnh hội cũng đã được tác giả nêu: thái độ và các quá trình tư duy, ghi nhớ để chiếm lĩnh tri thức đóng vai trò quan trọng [19].Êxipôv nghiên cứu công tác tự học của học sinh ngoài giờ lên lớp cho rằng: tự học là việc học của học sinh tiến hành khi không có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Trong đó người học phải tự giác vươn tới mục đích đã đề ra. Trong nghiên cứu của mình tác giả cũng đã đưa ra phương pháp để kích thích hoạt động tự học cho sinh viên là: trong quá trình dạy học giáo viên có thể nêu lên hàng loạt vấn đề và yêu cầu học sinh hoàn thành trong một khoảng thời gian xác định [8].
Nhà sư phạm nối tiếng của Nhật – Tsunesaburo Makiguchi trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” đã nhấn mạnh quá trình hướng dẫn tự học của người học. Động lực của giáo dục là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng [14]. Năm 1979, trong cuốn “Thuật ngữ giáo dục người lớn” do UNESCO xuất bản đã xác định: “Sự giáo dục mà nội dung quá trình tự học được xác định bởi các nhu cầu, mong muốn của người học và họ tham gia tích cực vào việc hình thành và kiểm soát, sự giáo dục này huy động những nguồn lực và kinh nghiệm của người học”. Tức là người học muốn học tập hiệu quả thì phải có nhu cầu, mong muốn tự học và tích cực tự học.
Từ những nghiên cứu trên cho thấy từ rất lâu các nhà nghiên cứu nước ngoài đã quan tâm nghiên cứu về hoạt động tự học của học sinh, sinh viên. Các nghiên cứu đã góp phần khẳng định vai trò to lớn của tự học trong việc nâng cao hiện quả học tập, đồng thời các tác giả cũng đã chỉ ra các kỹ năng tự học và cai trò của người dạy trong việc nâng tao tính tích cực tự học ở người học, nhưng tính tích cực tự học của người học là gì và được biểu hiện ra sao thì chưa có nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới. Ở trong nước Sau năm 1954, việc học của người học đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Nhà giáo dục Nguyễn Hiến Lê trong tác phẩm “Tự học một nhu cầu của thời đại” đã nêu cao vai trò của tự học và bằng kinh nghiệm tự học của bản 13 thân ông đã đưa ra lời khuyên tự học cho mọi người [18].
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi “Bàn về học tập” đã từng dạy: “Phải tự nguyện, tực giác xem công việc tự học là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được, do đó phải tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập”. Người chỉ rõ: tự học có vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy quá trình học tập, phát triển nhân cách và là nền tảng quyết định chất lượng của quá trình dạy học [15]. Tác giả Phan Thị Diệu Vân đã nghiên cứu tính tích cực học tập của học sinh trong giờ học với công trình: “Làm cho học sinh tích cực, chủ động và độc lập sáng tạo trong giờ lên lớp”. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã phân tích tính tích cực học tập không chỉ thể hiện trong các mặt quan sát, chú ý, tư duy, trí nhớ mà phải căn cứ vào cường độ, độ sâu, nhịp điệu của những hoạt động đó trong 1 thời gian nhất định [30].
Nguyễn Ngọc Bảo với công trình nghiên cứu “Một vài suy nghĩ về khái niệm tính tích cực, tính độc lập nhận thức và mối liên hệ giữa chúng” tác giả cho rằng tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập, nhận thức. Đặng Vũ Hoạt cho rằng tính tích cực học tập học tập biểu hiện ở chỗ huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng tư duy. Trong đó, sự kết hợp thống nhất giữa các yếu tố tâm lý nhận thức với các yếu tố tình cảm, ý chí càng linh hoạt bao nhiêu nhất thì ở người học tính tích cực càng cao bấy nhiêu [Dẫn theo Nguyễn Xuân Thức, 26]. Tác giả Phan Trọng Ngọ trong bài viết “Dạy cho sinh viên tự học tập và học sáng tạo” đã nhấn mạnh vai trò của việc tự học và học sáng tạo đối với sinh viên, đồng thời đề xuất biện phát huy khả năng tự học của sinh viên [16].
Trần Bá Hoành lại cho rằng tính tích cực học tập của sinh viên được biểu hiện ở sự khát khao khoa học, hay nêu thắc mắc, chủ động vận dụng sự tập trung 14 chú ý, sự kiên trì vượt mọi khó khăn để đạt mục đích. Biểu hiện của tính tích cực học tập ở các mức độ khác nhau: Tái hiện, tìm tòi, sáng tạo. Dương Thị Thúy Uyên trong bài báo “Để sinh viên có thể tự học tốt môn tiếng Anh” cho rằng tự học là một kỹ năng quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên giúp họ nắm bắt kiến thức tốt hơn và vì thế việc học trở nên có hiệu quả hơn. Hướng dẫn sinh viên thực hiện tốt việc tự học là yêu cầu cấp thiết đối với giáo viên trong quá trình đổi mới dạy và học ở đại học hiện nay.
Để đạt được điều này, cần phải có sự nỗ lực thay đổi và phối hợp tốt từ cả ba phía: sinh viên, giáo viên và nhà trường. Tác giả Phan Bích Ngọc trong bài báo “Tổ chức tốt việc tự học cho sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học theo hình thức tín chỉ hiện nay” đã khẳng định: tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học ở Đại học của sinh viên. Tự học nhằm phát huy tính tự giác tích cực năng lực đọc sách và nghiên cứu của sinh viên để thực hiện nhiệm vụ giáo dục ở các trường Cao đẳng – Đại học là “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của sinh viên”.