CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản về phương pháp tự học của sinh viên 1. Khái niệm phương pháp Tại khoản 2, Điều 5 Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực họ hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [1; tr.
Tùy theo ngữ cảnh và lĩnh vực nghiên cứu, khái niệm về phương pháp có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một số định nghĩa phổ biến là: “Phương pháp là cách thức để làm một vấn đề nào đó đặt ra trong thực tế” [20; tr. “Phương pháp Cách thức sinh viên tự giác, tự lực, tích cực tiếp thu những kiến thức mà thực tế đạt ra bằng hành động để đạt được mục đích sinh viên mong muốn” [20; tr. Tuy nhiên, đây chỉ là một số định nghĩa phổ biến và có thể tồn tại nhiều khái niệm khác tùy thuộc vào ngữ cảnh và lĩnh vực nghiên cứu cụ thể.
Ở đề tài này, nhóm tác giả xin đưa ra định nghĩa về “phương pháp” như sau: phương pháp là cách thức nghiên cứu, phát hiện, nhìn nhận các hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội; là hệ thống các cách được sử dụng để thực hiện một hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Khái niệm tự học “Tự học” là một thuật ngữ có nguồn gốc chính từ tiếng Hy Lạp cổ đại autos - có nghĩa từ thân didaktik - nghĩa là “dạy”. Do đó, nó có thể được hiểu là một triết lý nghệ thuật của giáo dục (an artistic philosophy of education). Qua các tài liệu và công trình nghiên cứu, khái niệm tự học được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn trong cuốn “Tự học thế nào cho tốt” cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [22; tr.
8 PA GE Theo Nguyễn Hiến Lê: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi 19 để hiểu biết thêm. Có thầy hay không ta không cần biết. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng” [16; tr. Bên cạnh đó, theo quan niệm của tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [5; tr.3] Phạm Viết Vượng cho rằng “Tự học là hình thức học sinh học ngoài giờ lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không có mặt trực tiếp của giáo viên” [26; tr.133] Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” đã đưa ra định nghĩa: “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học.
Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định” [12; tr. Với các góc độ tiếp cận khác nhau có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau về tự học. Nhưng nhìn chung, tự học là quá trình tự giác học tập để tiếp thu tri thức nhằm đạt được mục tiêu học tập đề ra, tự học là hoạt động độc lập tự chủ chiế m lĩnh kiế n thức, kĩ năng, tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổ ng hợp …) kế t hợp với các phẩm chất, động cơ, tình cảm, thế giới quan của cá nhân để lĩnh hội những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của nhân loại, tự phát triển tư duy và rèn luyện cho bản thân khả năng vận dụng những tri thức ấy vào thực tiễn. Do vậy, hiểu theo cách chung nhất, tự học là một quá trình tự giác, tích cực, chủ động tiếp thu tri thức, gắn liền với quá trình học tập; là sự tự tìm tòi, tự học hỏi, tự làm chủ quá trình học tập.
Khái niệm phương pháp tự học Phương pháp tự học là những cách thức, con đường mà người học lựa chọn để thực hiện giải quyết và chiếm lĩnh nội dung học tập nhằm đạt được mục tiêu tự học tốt nhất. Có rất nhiều phương pháp tự học nhưng không phải phương pháp nào cũng đem lại hiệu quả trong mọi tình huống và phù hợp với tất cả mọi người Trong hoạt động tự học, kỹ năng tự học là yếu tố cần thiết giúp người học nâng cao được năng lực tự học của bản thân, GS. Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng “Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả một hay một nhóm hành động tự học bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [21; tr. 9 PA GE Theo Rubakin “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả 19 lời - đó chính là phương pháp tự học.
Phương pháp tự học là cách thức, con đường, phương tiện mà người học vận dụng trong quá trình tự học để đạt được hiệu quả học tập Có rất nhiều khái niệm và cách hiểu về phương pháp tự học nhưng theo quan điểm của nhóm tác giả “phương pháp tự học là cách thức người học thiết kế, tổ chức thực hiện hoạt động tự học, tự kiểm tra đánh giá việc học của mình theo hướng chủ động, sáng tạo, tự lực nhằm củng cố, mở rộng và phát triển tri thức, kỹ năng kỹ xảo để phục vụ mục tiêu nâng cao năng lực của bản thân người học”. Khái niệm sinh viên Theo “Từ điển Tiếng Việt” sinh viên được hiểu là “Người học ở bậc đại học” [24; tr.1154], Cùng quan điểm đó tại Điều 2, Thông tư số 10/2016/TT-BGDĐT ban hành Quy chế công tác sinh viên đối với chương trình đào tạo đại học chính quy quy định: “1. Sinh viên được quy định tại quy chế này là người đang học chương trình đào tạo trình độ đại học hệ chính quy tại các cơ sở giáo dục đại học; 2. Sinh viên là trung tâm của các hoạt động giáo dục và đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học, được bảo đảm Điều kiện thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền trong quá trình học tập và rèn luyện tại cơ sở giáo dục và đào tạo”.
Theo Từ điển giáo dục học: “Sinh viên, người học của một cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học. Có thể phân loại sinh viên đại học theo những phạm trù khác nhau. Sinh viên tập trung, sinh viên chính quy, sinh viên không tập trung…” [11; tr. Theo Điều 2 Luật Giáo dục: “Sinh viên là trung tâm của các hoạt động giáo dục và đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học, được bảo đảm Điều kiện thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền trong quá trình học tập và rèn luyện tại cơ sở giáo dục và đào tạo.
Sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung so với các lứa tuổi khác, sinh viên còn mang những đặc điểm riêng: tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 – 25 tuổi, cơ thể đã phát triển hoàn chỉnh, ổn định, hệ thần kinh cao cấp đã trưởng thành. Do đó, khả năng hoạt động trí tuệ của sinh viên vượt xa hoạt động trí tuệ của học sinh phổ thông. Sự phát triển trí tuệ ở giai đoạn này được nâng cao, nhất là khả năng tập trung, tư duy, tưởng tượng, sự hình thành ý tưởng trừu tượng, phán đoán được nâng cao. Về mặt tâm lý, một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này là sự phát triển tự ý thức.
Nó có chức năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đối với bản thân, là điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách. Từ những đặc điểm trên, ta thấy đây là giai đoạn hình thành, ổn định và hoàn thiện tính cách. Sinh viên bắt đầu có tính tự chủ, tự lập và tự quản cao trong hoạt động tự học. 10 PA GE Sinh viên Việt Nam cũng giống như sinh viên các nước trên thế giới, họ vừa là 19 người tạo ra thông tin đồng thời cũng là người sử dụng thông tin.
Đây là đặc điểm nổi trội của sinh viên đại học. Như vậy, ta có thể hiểu: văn hóa là tập hợp các giá trị, thực tiễn, niềm tin, phong tục, tập quán,. của một nhóm người hoặc một xã hội cụ thể. Nó bao gồm các hoạt động, kiến thức, nghệ thuật, hệ thống giá trị và quy tắc ứng xử được thừa kế và chia sẻ thông qua các thế hệ.
Khái niệm phương pháp tự học của sinh viên Từ những khái niệm trên, nhóm tác giả tổng kết và đưa ra khái niệm phương pháp tự học của sinh viên như sau: phương pháp tự học của sinh viên là các cách thức, đường lối mang tính lý luận được hệ thống thành các nguyên tắc hướng dẫn việc tiếp thu, lĩnh hội các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo giúp sinh viên phát triển phẩm chất, năng lực và thích ứng, gia nhập các hoạt động xã hội. Đây là cách thức sinh viên tự tìm tòi, học hỏi, khám phá để lĩnh hội tri thức và vận dụng vào trong quá trình tự học nhằm đạt được mục tiêu học tập nhất định. Đặc điểm phương pháp tự học của sinh viên Sau quá trình tổng hợp và nghiên cứu, nhóm tác giả xin đưa ra một số đặc điểm về phương pháp tự học của sinh viên như sau: Thứ nhất, phương pháp tự học là cách thức học tập tự giác, tích cực, độc lập của người học. Người có thể tìm kiếm được phương pháp tự học phù hợp với bản thân là những người luôn cố gắng, nỗ lực học tập, tìm tòi những cái hay, cái mới, không ngừng học hỏi ở mọi lúc mọi nơi, có ý thức tự giác, không để người khác phải nhắc nhở về việc học tập của mình.
Họ là những người học đến nơi đến chốn, không bỏ dở giữa chừng, có hệ thống lại bài học, rút ra bài học, kinh nghiệm cho bản thân từ lý thuyết, sách vở.