Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây na dai (Annona squamosa L.) là một trong những loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, đóng vai trò chủ lực trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân và phủ xanh đất trống đồi núi đá tại các vùng trung du, miền núi phía Bắc. Huyện Võ Nhai là huyện vùng cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên (cách trung tâm tỉnh 37 km), sở hữu diện tích trồng na trên 500 ha, trong đó vùng sản xuất tập trung lớn nhất là xã La Hiên với 350 ha canh tác trên sườn núi đá vôi.
Mặc dù mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, ngành sản xuất na dai tại Võ Nhai đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức kỹ thuật:
- Thoái hóa giống: Phần lớn diện tích na được người dân nhân giống tự phát bằng hạt qua nhiều thế hệ. Sự phân ly di truyền và thụ phấn chéo tự nhiên khiến giống bị thoái hóa, phân ly tính trạng, cây sinh trưởng kém đồng đều, sức chống chịu suy giảm và xuất hiện hiện tượng cây chết hàng loạt.
- Tập quán canh tác hạn chế: Địa hình đồi núi đá vôi dốc và hiểm trở gây khó khăn lớn cho việc vận chuyển phân bón hữu cơ và vô cơ. Người trồng chưa áp dụng quy trình thâm canh chuẩn xác, còn lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, dẫn đến hiện tượng ít quả, quả nhỏ, kích thước không đồng đều, năng suất và phẩm chất thương phẩm chưa cao, thời gian thu hoạch ngắn.
- Áp lực sâu bệnh hại: Vùng trồng na thường xuyên xuất hiện các đối tượng dịch hại nguy hiểm như bệnh vàng lá thối rễ, thán thư, muội đen cùng các loài côn trùng gây hại gồm rệp sáp, nhện đỏ, bọ phấn trắng, ruồi đục quả, làm xấu mẫu mã và thối hỏng quả.
Xuất phát từ thực trạng trên, việc điều tra, tuyển chọn các cá thể ưu tú để công nhận cây đầu dòng nhằm bảo tồn nguồn gen tốt, kết hợp nghiên cứu hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác (bón phân, đốn tỉa) là yêu cầu cấp thiết.
Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
- Mục đích: Đánh giá, tuyển chọn 20 cây na đầu dòng nhằm bảo tồn nguồn gen và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng na dai tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tuyển chọn và xác định 20 cây na đầu dòng từ quần thể 40 cây na ưu tú tại địa phương;
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón NPK và kỹ thuật đốn tỉa đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng na dai trên đất bằng và đất núi đá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giống na dai (Annona squamosa L.) ở độ tuổi kinh doanh từ 10 đến 15 năm tuổi.
- Phạm vi không gian: Vườn na trên núi đá vôi và vườn đất bằng tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2020 (kế thừa chuỗi số liệu theo dõi cây ưu tú liên tục 3 năm từ 2017 đến 2019).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở khoa học và khung pháp lý
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở các nguyên lý về thoái hóa giống cây trồng (do lẫn tạp cơ giới, lẫn tạp sinh học qua thụ phấn chéo, đột biến tự nhiên, phân ly tổ hợp gen dị hợp ở cây nhân giống bằng hạt và sự tích lũy mầm bệnh) cùng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chọn lọc giống cây ăn quả lâu năm:
- Định nghĩa cây đầu dòng: Căn cứ Khoản 9 Điều 3 Thông tư số 30/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định cây đầu dòng là cây có năng suất, chất lượng cao, ổn định, có khả năng chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện bất lợi tốt hơn các cây khác trong quần thể một giống, được công nhận qua khảo nghiệm dòng vô tính để cung cấp vật liệu nhân giống.
- Tiêu chuẩn bình tuyển: Căn cứ Quyết định số 67/2004/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tiêu chuẩn áp dụng để tuyển chọn cây đầu dòng theo dõi 3 năm liên tục gồm: tuổi cây $\ge 5$ năm; sinh trưởng khỏe; số quả $\ge 50$ quả/cây/năm; năng suất $\ge 15$ kg/cây/năm; khối lượng quả $\ge 250$ g/quả; tỷ lệ phần ăn được $\ge 60%$; độ Brix $> 17%$.
- Cơ sở thâm canh khoáng và tỉa cành: Dựa trên các nghiên cứu về dinh dưỡng N-P-K cân đối và nguyên lý kích thích phân cành, xúc tiến phân hóa mầm hoa ở nách lá đối với chi Annona.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Quy trình nghiên cứu kết hợp giữa điều tra khảo sát nông hộ, theo dõi hình thái thực địa, phân tích sinh hóa phòng thí nghiệm và bố trí thí nghiệm đồng ruộng:
- Phương pháp tuyển chọn cây đầu dòng: Thực hiện qua 3 bước (Điều tra nông hộ bằng phiếu $\rightarrow$ Đánh giá hình thái, sinh trưởng, năng suất $\rightarrow$ Phân tích chất lượng quả và thành phần sinh hóa).
- Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng:
- Thí nghiệm 1 (Nghiên cứu liều lượng phân bón NPK): Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) trên 2 loại đất (đất núi đá vôi và đất bãi bằng) với 4 công thức:
- CT1: Bón phân NPK tổng hợp Đầu Trâu 13-13-13+TE mức 3 kg/cây/năm.
- CT2: Bón phân NPK tổng hợp Đầu Trâu 13-13-13+TE mức 4 kg/cây/năm.
- CT3: Bón phân NPK tổng hợp Đầu Trâu 13-13-13+TE mức 5 kg/cây/năm.
- CT4 (Đối chứng): Bón phân NPK Lâm Thao theo tập quán nông dân mức 4 kg/cây/năm.
- Phân bón được chia làm 3 đợt: Lần 1 sau thu hoạch (40%), lần 2 cuối tháng 3 - đầu tháng 4 khi nhú lộc xuân và nụ hoa (40%), lần 3 sau đậu quả 10 ngày (20%).
- Thí nghiệm 2 (Nghiên cứu kỹ thuật đốn tỉa cành): Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 công thức trên nền phân bón đồng nhất (10 kg phân gà + 4 kg NPK Đầu Trâu 13-13-13+TE + 4 kg phân vi sinh hữu cơ Đầu Trâu/cây/năm):
- CT1: Cắt tỉa để lại cành cấp 2 vào đầu tháng 1.
- CT2: Cắt tỉa theo lối truyền thống sau thu hoạch (cắt bỏ cành tăm, cành già cỗi, cành sâu bệnh, cành tược).
- CT3 (Đối chứng): Không cắt tỉa, để tán cây phát triển tự nhiên.
- Phương pháp theo dõi và phân tích chỉ tiêu:
- Sinh trưởng và nở hoa: Thời gian phát sinh các đợt lộc (xuân, hè, thu), chiều dài cành lộc (thước mét), đường kính cành lộc (panme), số lá/cành lộc, động thái nở hoa và tỷ lệ đậu quả (%).
- Năng suất và hình thái quả: Số quả/cây, khối lượng quả (cân kỹ thuật), chiều cao và đường kính quả (thước kẹp panme độ chính xác 0,1 mm), tỷ lệ phần ăn được (%).
- Chỉ tiêu sinh hóa: Đo độ Brix bằng khúc xạ kế kỹ thuật số (Digital Refractometer), phân tích hàm lượng đường tổng số, đường khử, axit hữu cơ, vitamin C, protein và vật chất khô (VCK) trong phòng thí nghiệm. Thử nếm cảm quan đánh giá độ bám dính vỏ, độ rỗng trục quả và mùi thơm.
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê toán học và phân tích phương sai được thực hiện trên phần mềm Microsoft Excel và SAS 9.x.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc phát triển cây na dai La Hiên theo hướng sản xuất hàng hóa bền vững. Nêu rõ mâu thuẫn giữa tiềm năng kinh tế lớn của vùng trồng với các tồn tại kỹ thuật như sự thoái hóa do nhân giống bằng hạt, tập quán bón phân mất cân đối và địa hình núi đá hiểm trở. Xác định rõ ràng mục đích, 2 mục tiêu nghiên cứu, phạm vi không gian tại xã La Hiên và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của đề tài đối với công tác bảo tồn nguồn gen và hoàn thiện quy trình canh tác na tại Thái Nguyên.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương tổng quan hệ thống hóa các tư liệu học thuật trong và ngoài nước:
- Vị trí phân loại và phân bố: Cây na thuộc chi Annona, họ Annonaceae. Tại Việt Nam phổ biến 4 loài gồm na dai (A. squamosa), mãng cầu xiêm (A. muricata), nê (A. reticulata) và bình bát (A. glabra). So sánh dinh dưỡng cho thấy na dai có hàm lượng calo (78 kcal/100g), gluxit (20,0 g/100g), canxi (30,0 mg/100g), photpho (36,0 mg/100g) và vitamin C (36,0 mg/100g) cao vượt trội so với xoài và chuối sứ.
- Yêu cầu sinh thái: Na thích hợp với nhiệt độ trung bình năm 20 - 25°C, số giờ chiếu sáng khoảng 2.500 giờ/năm, độ pH đất tối ưu từ 5,5 đến 7,4. Na có khả năng chịu hạn, thích hợp nhất trên đất đỏ nâu và đất phong hóa chân núi đá vôi thoát nước tốt.
- Tổng quan nghiên cứu: Điểm lại các công trình chọn lọc cây trội (plus tree) của Hamrick (1979), Zobel (1988), Turnbull (1997) và các nghiên cứu dinh dưỡng N-P-K, kỹ thuật đốn tỉa cành của Agustin & Alviter (1996), Nakasone & Paull (1998), Pinto & Ramos (1996) trên thế giới cũng như quy trình chăm sóc cây ăn quả của Bộ Nông nghiệp & PTNT (2004).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định chi tiết vật liệu nghiên cứu gồm các vườn na 10 - 15 tuổi tại xã La Hiên, phân bón NPK Đầu Trâu 13-13-13+TE, NPK Lâm Thao và trang thiết bị đo đạc. Mô tả chi tiết sơ đồ tuyển chọn 3 bước theo Quyết định 67/2004/QĐ-BNN và phương pháp bố trí 2 thí nghiệm đồng ruộng (thí nghiệm 4 công thức phân bón trên 2 loại đất; thí nghiệm 3 công thức cắt tỉa cành) kèm theo công thức tính toán tỷ lệ đậu quả, tỷ lệ ăn được và quy trình phân tích sinh hóa.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương kết quả tập trung trình bày các dữ liệu thực nghiệm qua hệ thống bảng biểu chi tiết:
1. Thông tin và phân bố của 20 cây na đầu dòng
Từ 40 cây ưu tú theo dõi giai đoạn 2017 - 2019, tác giả đã chọn lọc được 20 cây đầu dòng (ký hiệu từ ĐD1 đến ĐD20) thuộc sở hữu của 7 hộ nông dân tại xóm Hiên Bình, xã La Hiên:
- Phân bố hộ: Hộ bà Nguyễn Thị Hạnh (4 cây: ĐD17, ĐD18, ĐD19, ĐD20); hộ ông Nguyễn Văn Hoàng (10 cây: ĐD3, ĐD4, ĐD6, ĐD7, ĐD8, ĐD9, ĐD10, ĐD11 và 1 cây na bở ĐD12); hộ ông Nguyễn Văn Thông (3 cây: ĐD5, ĐD14, ĐD15); hộ ông Phạm Ngọc Cảnh (ĐD1); hộ ông Phạm Đức Chính (ĐD2); hộ bà Phạm Thị Tĩnh (ĐD13); hộ ông Phạm Văn Huân (1 cây na bở ĐD16).
- Nguồn gốc và lập địa: 100% cây được nhân giống bằng hạt, trồng từ các năm 2005 - 2010 (10 đến 15 tuổi). Đa số cây phân bố trên sườn núi đá vôi đất đỏ nâu có độ dốc từ 15° đến 30°, một số ít trồng tại chân núi bằng phẳng có độ dốc $< 15^\circ$.
2. Đặc điểm sinh trưởng hình thái
Các cây tuyển chọn có sức sinh trưởng khỏe: chiều cao cây từ 3,0 m đến 4,5 m; đường kính tán từ 3,6 m đến 6,8 m; tán dạng hình bán cầu cân đối; đường kính gốc đạt 9,6 - 17,5 cm; chiều cao phân cành từ 0,40 m đến 0,62 m với góc phân cành rộng (30° - 40°), tạo bộ khung tán thoáng và tiếp nhận ánh sáng thuận lợi.
| Mã cây |
Năm trồng |
Tuổi cây |
Chiều cao cây (m) |
Đường kính tán (m) |
Đường kính gốc (cm) |
Dạng tán |
| ĐD1 |
2009 |
12 |
4,5 |
5,5 |
11,7 |
Bán cầu |
| ĐD2 |
2005 |
15 |
4,5 |
6,0 |
14,6 |
Bán cầu |
| ĐD3 |
2006 |
14 |
4,2 |
5,7 |
13,6 |
Bán cầu |
| ĐD6 |
2006 |
14 |
3,9 |
5,8 |
25,0 |
Bán cầu |
| ĐD7 |
2006 |
14 |
3,5 |
6,5 |
15,7 |
Bán cầu |
| ĐD15 |
2010 |
14 |
4,5 |
6,8 |
14,0 |
Bán cầu |
| ĐD18 |
2007 |
13 |
3,5 |
5,0 |
17,5 |
Bán cầu |
3. Năng suất và khối lượng quả qua 3 năm (2017 - 2019)
Năng suất cá thể của 20 cây dao động từ 19,51 kg/cây đến 38,96 kg/cây. Năm 2018 ghi nhận năng suất cao nhất đạt 38,96 kg/cây (cây ĐD4 với 128 quả/cây, khối lượng 304,4 g/quả). Năm 2019, do ảnh hưởng thời tiết khô hạn giai đoạn sau đậu quả, số lượng quả đạt 85 - 115 quả/cây, khối lượng quả đạt 223,1 - 293,5 g/quả. Tỷ lệ quả loại 1 đạt trên 90%.
| Mã cây |
Số quả 2017 (quả) |
Khối lượng quả 2017 (g) |
Năng suất 2017 (kg) |
Số quả 2018 (quả) |
Khối lượng quả 2018 (g) |
Năng suất 2018 (kg) |
Năng suất 2019 (kg) |
| ĐD1 |
112 |
299,3 |
33,52 |
101 |
268,3 |
27,10 |
19,51 |
| ĐD2 |
120 |
289,1 |
34,69 |
109 |
275,6 |
30,04 |
29,60 |
| ĐD3 |
103 |
320,8 |
33,04 |
102 |
283,4 |
28,91 |
32,95 |
| ĐD4 |
101 |
210,4 |
21,25 |
128 |
304,4 |
38,96 |
30,94 |
| ĐD5 |
108 |
211,3 |
22,82 |
123 |
302,5 |
37,21 |
28,76 |
| ĐD6 |
113 |
322,1 |
36,40 |
112 |
276,1 |
30,92 |
25,31 |
| ĐD7 |
107 |
324,2 |
34,69 |
110 |
306,3 |
33,69 |
24,09 |
4. Hình thái, phẩm chất và thành phần sinh hóa quả
- Hình thái và cảm quan: Quả có dạng tròn đều hơi hình tim, chiều cao quả 6,61 - 7,16 cm, đường kính quả 6,85 - 7,94 cm, khối lượng trung bình đạt 238,40 - 308,00 g/quả. Vỏ quả màu xanh trắng tươi sáng, gai nở phẳng đều. Thịt quả màu trắng sữa, chắc dai, độ dày thịt quả từ 2,7 cm đến 3,2 cm, trục quả ít rỗng, vỏ quả rất dễ bóc tách khỏi cùi thịt. Số hạt dao động 65,2 - 70,3 hạt/quả. Tỷ lệ phần ăn được đạt từ 63,58% (ĐD2) đến 65,67% (ĐD6). Điểm đánh giá cảm quan mùi vị khi thử nếm đều đạt mức rất cao ($> 220$ điểm, đạt 223 - 238 điểm).
- Thành phần sinh hóa: Kết quả phân tích khẳng định chất lượng vượt trội của các dòng tuyển chọn:
- Độ Brix dao động từ 16,0% (ĐD13) đến 18,5% (ĐD15).
- Hàm lượng đường tổng số (TS): 14,23% (ĐD19) đến 18,67% (ĐD13).
- Hàm lượng đường khử: 13,48% (ĐD9) đến 15,07% (ĐD1).
- Hàm lượng Protein: 1,82 g (ĐD13) đến 2,06 g (ĐD2).
- Hàm lượng Vitamin C: 53,18 mg/100g (ĐD16) đến 56,89 mg/100g (ĐD2).
- Hàm lượng Axit hữu cơ thấp: 0,16% đến 0,25%.
- Hàm lượng vật chất khô (VCK): 22,55% đến 24,61%.
| Ký hiệu mẫu |
Độ Brix (%) |
Đường TS (%) |
Đường khử (%) |
Axit (%) |
Vitamin C (mg/100g) |
Protein (g) |
VCK (%) |
| ĐD1 |
17,5 |
17,58 |
15,07 |
0,23 |
55,84 |
2,03 |
24,55 |
| ĐD2 |
17,4 |
15,61 |
14,91 |
0,25 |
56,89 |
2,06 |
24,61 |
| ĐD3 |
17,3 |
17,54 |
14,82 |
0,21 |
55,63 |
2,02 |
24,47 |
| ĐD6 |
18,3 |
15,82 |
14,55 |
0,22 |
53,92 |
1,89 |
23,65 |
| ĐD10 |
18,3 |
16,56 |
14,72 |
0,23 |
53,36 |
1,86 |
22,82 |
| ĐD13 |
16,0 |
18,67 |
14,63 |
0,18 |
54,62 |
1,82 |
23,82 |
| ĐD15 |
18,5 |
16,72 |
15,04 |
0,22 |
55,12 |
1,94 |
23,65 |
| ĐD20 |
17,9 |
16,84 |
15,01 |
0,23 |
54,72 |
2,01 |
23,45 |
- Tình hình sâu bệnh hại: Toàn bộ 20 cây tuyển chọn có sức đề kháng cao, điểm hại rệp sáp và sâu đục quả chỉ ở mức nhẹ (cấp 0 - 1), hoàn toàn không bị bệnh vàng lá thối rễ; bệnh thán thư chỉ xuất hiện vết chấm nhỏ cục bộ trên 4 cá thể (ĐD7, ĐD13, ĐD14, ĐD20).
5. Kết quả nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác
- Ảnh hưởng của phân bón NPK: Việc bón bổ sung phân NPK Đầu Trâu 13-13-13+TE với liều lượng hợp lý (3 - 5 kg/cây) giúp cây ra lộc sớm, cành lộc phát triển dài và mập hơn, tăng số lá/cành, thúc đẩy hoa nở rộ tập trung, nâng cao tỷ lệ đậu quả, tăng kích thước quả và nâng cao hiệu quả kinh tế trên 1 ha (500 cây) so với công thức đối chứng bón NPK Lâm Thao thông thường.
- Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa cành: Cắt tỉa cành đầu tháng 1 (để lại cành cấp 2) giúp kích thích ra lộc xuân và lộc hè đồng loạt, tập trung dinh dưỡng nuôi các cành quả hữu hiệu, giảm tỷ lệ rụng hoa, tăng tỷ lệ đậu quả, cải thiện độ đồng đều mẫu mã và chất lượng quả so với tập quán không cắt tỉa hoặc chỉ tỉa cành sau thu hoạch.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận khẳng định tính phù hợp của 20 cây na đầu dòng được tuyển chọn về cả năng suất, tính ổn định và chất lượng sinh hóa. Đồng thời đề nghị công nhận chính thức nguồn giống và khuyến cáo ứng dụng quy trình kỹ thuật bón phân NPK Đầu Trâu kết hợp đốn tỉa tạo tán vào vùng sản xuất na tập trung huyện Võ Nhai.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Kết quả định lượng cốt lõi
- Tuyển chọn 20 cây đầu dòng: Đã bình tuyển và lập hồ sơ công nhận 20 cá thể na đầu dòng (gồm 18 cây na dai và 2 cây na bở) từ 40 cây ưu tú tại xã La Hiên. Toàn bộ cây đạt tiêu chuẩn: tuổi cây 10 - 15 năm, năng suất trung bình 19,51 - 38,96 kg/cây/năm, số quả 85 - 128 quả/cây, khối lượng trung bình 238,40 - 308,00 g/quả, tỷ lệ phần ăn được 63,58% - 65,67%, tỷ lệ quả loại 1 đạt trên 90%.
- Chỉ số chất lượng sinh hóa: Quả na của các cây tuyển chọn có chất lượng vượt trội: độ Brix đạt 16,0% - 18,5%, đường tổng số đạt 14,23% - 18,67%, vitamin C đạt 53,18 - 56,89 mg/100g, protein đạt 1,82 - 2,06 g, cùi thịt dày 2,7 - 3,2 cm, hương vị thơm ngọt đậm đà, điểm thử nếm đạt 223 - 238 điểm.
- Biện pháp kỹ thuật thâm canh: Xác định được hiệu quả rõ rệt của phân bón NPK tổng hợp Đầu Trâu 13-13-13+TE (chia 3 lần bón) và kỹ thuật đốn tỉa cành cấp 2 vào đầu tháng 1 trong việc nâng cao sức sinh trưởng cành lộc, tỷ lệ đậu quả và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích 1 ha (500 cây).
Đóng góp thực tiễn và khoa học
- Bảo tồn nguồn gen: Cung cấp nguồn vật liệu di truyền đầu dòng ưu tú, có khả năng thích nghi cao với điều kiện đất núi đá vôi dốc tại Võ Nhai, phục vụ trực tiếp cho công tác nhân giống vô tính (ghép mắt/ghép cành) thay thế dần việc nhân giống bằng hạt bị thoái hóa.
- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật: Đóng góp các dẫn liệu thực nghiệm khoa học làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện quy trình thâm canh tổng hợp (bón phân khoáng cân đối, cắt tỉa cành tạo tán) cho vùng trồng na dai Thái Nguyên và các tiểu vùng sinh thái tương tự tại miền Bắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi địa lý: Các thí nghiệm thực địa và tuyển chọn cây đầu dòng mới chỉ tập trung tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, chưa mở rộng đánh giá so sánh trên các tiểu vùng sinh thái núi đá khác trong tỉnh.
- Biến động ngoại cảnh: Chu kỳ theo dõi chịu ảnh hưởng của yếu tố thời tiết khô hạn năm 2019 làm giảm số lượng và kích thước quả so với các năm 2017 - 2018.
- Nguồn gốc cây vật liệu: Các cây đầu dòng tuyển chọn đều là cây gieo hạt thụ phấn tự do, chưa trải qua chu kỳ khảo nghiệm thế hệ nhân giống vô tính ($F_1$) trên diện rộng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Tiếp tục theo dõi tính ổn định về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu bệnh của 20 cây đầu dòng trong các vụ quả tiếp theo.
- Lấy mắt ghép từ các cây đầu dòng đã chọn để tiến hành nhân giống vô tính, xây dựng vườn giống gốc và khảo nghiệm hậu thế trên các dạng lập địa khác nhau.
- Nghiên cứu sâu hơn về kỹ thuật thụ phấn bổ sung nhân tạo kết hợp xử lý rải vụ thu hoạch nhằm nâng cao giá trị thương phẩm cho vùng na Võ Nhai.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng sau:
- Sinh viên và học viên: Thuộc các chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Trồng trọt, Khuyến nông tham khảo về phương pháp luận điều tra bình tuyển cây đầu dòng theo quy chuẩn ngành, phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng (RCBD) và kỹ thuật phân tích các chỉ tiêu hóa sinh quả.
- Cán bộ quản lý nông nghiệp và khuyến nông: Phòng Nông nghiệp & PTNT, Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Võ Nhai và các địa phương có địa hình đồi núi đá (Lạng Sơn, Bắc Giang, Ninh Bình) sử dụng làm căn cứ kỹ thuật để chỉ đạo sản xuất và xây dựng vùng chuyên canh na theo tiêu chuẩn an toàn.
- Hộ nông dân và Hợp tác xã: Tham khảo danh sách các hộ sở hữu cây đầu dòng để khai thác mắt ghép chuẩn giống, đồng thời áp dụng trực tiếp quy trình bón phân NPK Đầu Trâu 13-13-13+TE và kỹ thuật cắt tỉa cành đón lộc để tăng năng suất vườn na.
Câu hỏi thường gặp
1. Đề tài đã tuyển chọn được bao nhiêu cây đầu dòng và thuộc những loại giống nào?
Đề tài đã lựa chọn và xác định được 20 cây đầu dòng từ quần thể 40 cây ưu tú tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Trong đó có 18 cây na dai (Annona squamosa) và 02 cây na bở (mã số ĐD12 của hộ ông Nguyễn Văn Hoàng và ĐD16 của hộ ông Phạm Văn Huân).
2. Các cây đầu dòng được tuyển chọn có nguồn gốc và điều kiện lập địa như thế nào?
100% số cây được tuyển chọn đều có nguồn gốc nhân giống từ gieo hạt, được trồng trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2010 (độ tuổi từ 10 đến 15 năm). Các cây chủ yếu phân bố trên các sườn núi đá vôi thuộc loại đất đỏ nâu có độ dốc từ 15° đến 30°, một số ít trồng tại bãi bằng chân núi có độ dốc dưới 15°.
3. Chất lượng sinh hóa của quả na từ các cây đầu dòng đạt các chỉ số cụ thể ra sao?
Các chỉ tiêu sinh hóa của 20 cây đầu dòng đều đạt mức cao:
- Độ Brix: 16,0% đến 18,5%
- Đường tổng số: 14,23% đến 18,67%
- Đường khử: 13,48% đến 15,07%
- Hàm lượng Protein: 1,82 g đến 2,06 g
- Hàm lượng Vitamin C: 53,18 đến 56,89 mg/100g
- Hàm lượng Axit hữu cơ: 0,16% đến 0,25%
- Hàm lượng vật chất khô (VCK): 22,55% đến 24,61%
4. Thí nghiệm nghiên cứu phân bón NPK đã khảo nghiệm những công thức nào?
Thí nghiệm phân bón được bố trí trên cả 2 loại đất (núi đá vôi và bãi bằng) gồm 4 công thức:
- CT1: Bón phân NPK Đầu Trâu 13-13-13+TE mức 3 kg/cây/năm.
- CT2: Bón phân NPK Đầu Trâu 13-13-13+TE mức 4 kg/cây/năm.
- CT3: Bón phân NPK Đầu Trâu 13-13-13+TE mức 5 kg/cây/năm.
- CT4 (Đối chứng): Bón phân NPK Lâm Thao mức 4 kg/cây/năm theo tập quán nông dân.
Lượng phân được chia làm 3 đợt bón: sau thu hoạch (40%), khi nhú lộc xuân và nụ hoa (40%), và sau đậu quả 10 ngày (20%).
5. Đặc điểm hình thái quả và tỷ lệ phần ăn được của các cây tuyển chọn đạt bao nhiêu?
Quả có dạng tròn đều hơi hình tim, vỏ màu xanh trắng sáng, cùi thịt màu trắng sữa dai, dày 2,7 - 3,2 cm, trục quả ít rỗng và rất dễ lột vỏ. Khối lượng quả trung bình đạt 238,40 - 308,00 g/quả, chiều cao quả đạt 6,61 - 7,16 cm, đường kính quả đạt 6,85 - 7,94 cm, số hạt từ 65,2 đến 70,3 hạt/quả và tỷ lệ phần ăn được đạt từ 63,58% đến 65,67%.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Thị Phương Thảo đã hoàn thành xuất sắc việc điều tra, đánh giá và tuyển chọn thành công 20 cây na đầu dòng đạt chuẩn từ quần thể na ưu tú tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Công trình cung cấp hệ thống số liệu khoa học toàn diện về hình thái học, năng suất cá thể và các chỉ tiêu sinh hóa chất lượng cao của nguồn gen na dai vùng núi đá vôi. Đồng thời, các kết quả thí nghiệm về bón phân NPK Đầu Trâu và kỹ thuật đốn tỉa cành là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp hoàn thiện quy trình canh tác thâm canh, phục vụ phát triển vùng sản xuất na hàng hóa bền vững tại địa phương.