Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài. Đặc điểm nông sinh học Cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu,. Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một năm, cam quýt thường ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông).
Quá trình ra lộc ở cam quýt có liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau. Nếu có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa các bộ phận dưới và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh hại, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cam quýt. Từ cơ sở khoa học này, việc nghiên cứu quá trình ra lộc, mối liên hệ của các đợt lộc trong năm nhằm có thêm các thông tin cơ bản - tiền đề của các biện pháp kỹ thuật là cần thiết. Đối với việc sử dụng phân bón lá cho cây cam quýt: Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng.
Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết. Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng. Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả. Sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng Cây trồng nói chung và cam quýt nói riêng luôn tồn tại cơ chế các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống.
Các chất điều hòa sinh trưởng khác nhau được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây. Gibberellin (GA3) được tổng hợp ở tất cả các bộ phận còn non của cây và được vận chuyển không phân cực. Giberellin có tác dụng nhiều đối với cây ăn qua như: thúc đẩy phát triển cây non; kích thích mọc mầm; nảy mầm, nảy chồi của hạt; sự ra hoa, ra quả của cây. Tình hình sản xuất cam trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất trên thế giới Cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay được trồng phổ biến ở những vùng có khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn đới ven biển chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Các nước trồng cam quýt nổi tiếng hiện nay đó là: - Địa Trung Hải và Châu Âu bao gồm các nước: Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Isaren, Tunisia, Algeria - Vùng Bắc Mỹ bao gồm các nước: Hoa Kỳ, Mexico. - Vùng Nam Mỹ bao gồm các nước: Braxin, Venezuela, Argentina, Uruguay. - Vùng Châu Á bao gồm các nước: Trung Quốc và Nhật Bản.
- Các hòn đảo Châu Mỹ bao gồm các nước: Jamaica, Cu Ba, Cộng hòa Dominica. Theo thống kê của FAO, năm 2000 tổng sản lượng cam quýt trên thế 6 giới là 85 triệu tấn và phần tiêu thụ khoảng 79,3 triệu tấn, tăng trưởng hàng năm 2,85%. Tiêu thụ sẽ tăng lên ở các nước đang phát triển và giảm ở các nước phát triển. Cam là thứ quả tiêu thụ nhiều nhất chiếm 73% quả có múi, tập trung ở các nước có khí hậu á nhiệt đới ở các vĩ độ cao hơn 20-220 nam và bắc bán cầu, giới hạn phân bố từ 35 vĩ độ nam và bắc bán cầu, có khi lên tới 40 vĩ độ nam và bắc bán cầu.
Dự báo trong những năm của thập kỷ 2000 mức tiêu thụ quả có múi của thị trường thế giới tăng khoảng 20 triệu tấn. Các nước xuất khẩu cam quýt chủ yếu đó là: Tây Ban Nha, Israel, Ma rôc, Italia. Các giống cam quýt trên thị trường được ưa chuộng là: Washington, Navel, Valenxia Late của Ma Rôc, Samouti của Isarel, Maltaises của Tunisia, và các giống quýt Địa trung hải như: Clemention, quýt Đá Danxy và Unshiu được rất nhiều người ưa chuộng. Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 75 nước trồng cam, được phân chia làm 3 khu vực: Châu Mỹ, các nước Địa Trung Hải và các nước á Phi Những nước trồng nhiều cam như: Mỹ 9,6 triệu tấn/năm, Brazin 7,2 triệu tấn/ năm; Tây Ban Nha 1,7 triệu tấn/năm.
Nhóm 1 chiếm 30% tổng sản lượng thế giới, nhóm 2 chiếm 25 - 28% (ý, Ai Cập và Ixraen), nhóm 3 chiếm gần 40% sản lượng (đứng đầu là Nhật Bản, Trung Quốc), trong đó Nhật Bản cung cấp 10% sản lượng cam quýt thế giới với 2,7 triệu tấn. Những nước này có nhiều tiến bộ công nghệ về thâm canh cam quýt của thế giới năm 1980 là 5,159 triệu tấn, trị giá 2,329 tỷ USD. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiện ở bảng 1.1: Tình hình sản suất cây có múi trên thế giới từ 2006-2012 Năng suất Sản lượng Năm Diện tích (ha) (tạ/ha) (tấn/ha) 2006 1.318 (Nguồn Faostat, 2013) Theo số liệu thống kê của FAO, sản lượng cam quýt thế giới có chiều hướng tăng nhanh trong nhưng năm trở lại đây cả về năng suất và diện tích. Năm 2006 diện tích cây có múi là trên 1,1 triệu ha, năng suất 65,92 tạ/ha, đến năm 2012 diện tích đã tăng lên hơn 1,3 triệu ha, năng suất đạt 94,85 tạ/ha.
Tổng sản lượng cam quýt thế giới năm 2012 ước độ gần 13 triệu tấn với tổng diện tích tập trung chủ yếu ở các nước có khí hậu á nhiệt đới. Xuất khẩu quả có múi hiện nay ước tính khoảng 10% sản lượng thu hoạch của cây ăn quả có múi. Phần lớn lượng quả có múi xuất khẩu là ở vùng Bắc bán cầu, chiếm 62% sản lượng quả có múi xuất khẩu của thế giới. Quả có múi chủ yếu được tiêu thụ ở các nước phát triển.
Tình hình sản xuất trong nước Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam quýt. Theo sử sách "Vân đài loại ngữ" của Lê Quý Đôn có viết: Nước Việt Nam cũng có rất nhiều thứ cam: Cam Sen (gọi là Liên Cam), cam Vú (Nhũ cam) loại quả có vá máng và mỡ, vừa chua vừa ngọt; cam sành (Sinh cam) vá dày, vị chua; cam 8 Mật (mật cam) vá máng, vị chua; cam Động Đình quả to, vá dày, vị chua; cam Giấy (chỉ cam) tức là Kim quýt, vá rất máng, sắc hồng, trông mã đẹp, vị chua; quất Trục (cây quýt) ghi trong Thiên Vũ Cống và sách Thu Thư là tài sản rất quý của Nam Phương đem sang Trung Quốc trước tiên. Cam quýt được trồng phổ biến nhiều nơi trên khắp mọi miền của đất nước. Theo tổng cục thống kê tính đến năm 2008 cả nước có 87.500 ha với sản lượng 683.2: Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi ở Việt Nam Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (ha) (tạ/ha) (tấn) 2000 67.009 (FAOSTAT, 2013) Cây ăn quả có múi của nước ta phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi tiếng đặc trưng cho vùng.
Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam quýt còn gặp nhiều khó khăn, đó là do điều kiện thời tiết thất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, công tác bảo vệ thực vật chưa được quan tâm chu đáo, công tác tuyển chọn giống và sản xuất cây giống chất lượng chưa được chú trọng đúng mức. 9 Theo niên giám thống kê năm 2012 diện tích cây cam của nước ta ước tính trên 42.700 ha, sản lượng đạt 520. Trong đó các tỉnh phía Nam có sản lượng lớn hơn, còn các tỉnh phía Bắc các loại quả cam chất lượng quả cao hơn. Trồng cam nhanh cho thu hoạch quả, lãi suất cao hơn nhiều loại cây ăn quả khác.
ở nước ta, 1 ha cam ở thời kỳ 8 năm tuổi, năng suất trung bình 16 tấn lãi thuần đạt được khoảng 10 - 12 triệu đồng/năm. Nếu thâm canh đạt năng suất 20 tấn/ha và lãi xuất có thể là 20 - 25 triệu đồng/ha/năm. Cây cam có thể sống và cho thu hoạch quả trong vòng 25 - 30 năm. Đất tốt, điều kiện thâm canh cao, khí hậu thích hợp thì tuổi thọ của cây cam có thể kéo dài 50 - 100 năm.
Nghệ An, cây cam đã được trồng ở hầu khắp huyện thị từ lâu đời. Nhưng cây cam thực sự được phát triển mạnh trên quy mô lớn, tập trung là từ những năm 60 với các giống cam nổi tiếng như cam Xã Đoài, cam Sông Con và một số giống nhập nội. Tập trung chủ yếu ở vùng đất gò đồi thấp bán sơn địa như các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tân Kỳ… Ngoài khu vực quốc doanh, cây cam còn được trồng khá phổ biến ở vườn hộ trên hầu khắp các vùng nông thôn trong tỉnh, đặc biệt đã hình thành các vùng cam nổi tiếng về chất lượng với giống cam đặc sản: cam Xã Đoài (Nghi Lộc). Hàng năm Nghệ An cung cấp cho thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc một khối lượng cam đáng kể với chất lượng nổi tiếng mà người tiêu dùng quen gọi là Cam Vinh.
Tổ chức tiêu thụ sản phẩm quả có múi cũng rất đa dạng, ngoài hệ thống chỉ đạo sản xuất lưu thông phân phối của nhà nước và Tổng Công ty Rau quả Trung ương với các đơn vị trực thuộc, dưới tác động của cơ chế thị trường, hệ thống tổ chức tiêu thụ quả tươi của tư nhân được hình thành một cách rộng khắp và chặt chẽ từ khâu thu mua đến khâu vận chuyển đường dài, bán buôn, bán lẻ cũng tỏ ra có hiệu quả hơn. Chính hình thức tổ chức kinh tế nhiều 10 thành phần mà quả tươi được phân bố, lưu thông đi các nơi trên mọi miền đất nước.