Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây cam thuộc họ cam quýt (Citrus) là loại cây ăn quả lâu năm có giá trị kinh tế cao, quá trình sinh trưởng và phát triển chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại và các yếu tố ngoại cảnh như: Nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, biểu hiện qua sinh trưởng, ra hoa kết quả, năng suất và phẩm chất quả. Cây ăn quả có múi có phạm vi thích nghi sinh thái rộng, ở Việt Nam cây có múi có mặt hầu hết ở các tỉnh thành trong cả nước, mỗi vùng miền đều có những cây ăn quả có múi đặc sản. Điều này cho thấy Việt Nam là nước có tập đoàn cây có múi rất phong phú với nhiều loại cây có múi khác nhau.
Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu để nâng cao năng suất chất lượng quả cam, tuy nhiên cây có múi là loại cây trồng có chu kỳ kinh doanh dài, mỗi nghiên cứu chỉ áp dụng cho một loại cây có múi nhất định, do vậy trong thực tiễn sản xuất hiện nay các nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học, nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm phục vụ cho nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng quả cam là hết sức cần thiết (Đường Hồng Dật (2003) [9]. Cây trồng nói chung và cam quýt nói riêng luôn tồn tại các cơ chế điều khiển các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống. Chất điều hòa sinh trưởng chính là các chất điều tiết các cơ chế này và thông qua tác động của các chất điều hòa sinh trưởng phôi có thể hình thành phát triển thành quả không qua quá trình thụ phấn thụ tinh do vậy quả được tạo thành do tác động của các chất này thường không hạt hoặc ít hạt. Các chất này được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận 5 khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây.
Trong chất điều hòa sinh trưởng có Gibberellin (GA3) và Naphthaleneaceticd (NAA) được tổng hợp ở tất cả các bộ phận còn non của cây và được vận chuyển không phân cực. Tác dụng sinh lý của GA3 là ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, sự lớn lên của quả, tạo quả không hạt, ngăn cản sự rụng của các cơ quan như lá, hoa, quả, làm chậm quá trình già hóa của toàn cây và sự chín của quả, kích thích kéo dài thân, dóng, kích thích sự nảy mầm của hạt, củ. NAA có tác dụng kích thích cây trồng ra rễ, ra hoa đồng loạt, kết nhiều trái, trái có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng trái non, cho sản lượng tốt (Chu Đình Lâm, Vũ Cao Thái (1980) [21]. Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng.
Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết. Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng. Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả (Hoàng Ngọc Thuận (2002) [27]. Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới và trong nước 1.
Tổng quan tình hình sản xuất trên thế giới Hiện nay cây ăn quả có múi được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các vùng cây ăn quả có múi trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các vùng. Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề cây ăn quả có múi cũng sớm phát triển và ngược lại. Kết quả được trình bày qua bảng 1.1 cho thấy: Năm 2010 diện tích cây ăn quả có múi của toàn thế giới là 4.127,0 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 168,4 tấn/ha, sản lượng đạt 6 6. Đến năm 2014 tổng diện tích giảm xuống còn 3.885,9 nghìn ha nhưng năng suất lại tăng lên 182,3 tấn/ha, sản lượng tăng lên 70.
So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2014, châu Á có tổng diện tích lớn nhất (1.562,2 nghìn ha) sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương 19,2 nghìn ha. Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới Các châu lục trên thế giới Chỉ Năm Châu Châu Châu Châu Đại Thế giới tiêu Châu Á Phi Mỹ Âu Dương 2010 391,8 1742,1 1657,7 314,0 21,3 4127,0 Diện 2011 412,6 1741,1 1450,3 310,5 15,9 3930,6 tích 2012 434,1 1618,2 1466,3 281,6 21,1 3821,6 (nghìn 2013 457,3 1585,5 1536,1 293,7 21,7 3894,5 ha) 2014 457,4 1560,3 1562,2 286,6 19,2 3885,9 2010 181,8 195,9 128,0 211,0 188,5 168,4 Năng 2011 186,7 209,7 139,9 207,2 189,4 181,2 suất 2012 188,7 212,0 138,1 202,6 189,7 180,2 (tấn/ha) 2013 184,1 211,6 141,8 219,6 189,5 181,3 2014 199,1 203,8 149,0 219,4 188,1 182,3 2010 7.856,3 Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2017 [40] 7 - Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina. tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cây ăn quả có múi ở đây phát triển rất mạnh. Về năng suất được ổn định từ năm 2010 đến năm 2014 năng suất đạt từ 195,9 đến 203,8 tấn/ha.
- Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam, quýt gồm các nước (Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêsia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất năm 2014 là 1.562,2 nghìn ha, chiếm 40,2% tổng diện tích toàn thế giới. So với châu Mỹ sản lượng châu Á các năm từ 2000 đến 2014 thấp hơn châu Mỹ. Nguyên nhân là do tổng diện tích châu Á lớn nhưng năng suất lại thấp hơn so với chau Mỹ. Tuy châu Á có tổng diện tích trồng cam đến năm 2014 là cao nhất thế giới (chiếm 40,2%) nhưng lại có năng suất trung bình thấp nhất.
Tình hình sản xuất cam quýt trong nước Cam quýt được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, cho đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước. Từ những năm hòa bình lập lại đến những năm 60 của thế kỷ 20 cam quýt ở Việt Nam còn rất hiếm, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh như Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang). đây là 2 vùng chuyên canh cam lớn của Việt Nam mà nhiều người biết đến. Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cây ăn quả có múi như Sông Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Sông Con.
đã hình thành một số vùng trồng cam chính ở nước ta (Bùi Huy Đáp (1960) [11]. Vùng Nghệ An khoảng 1.000ha, vùng tây Thanh Hoá 500ha, vùng Xuân Mai (Hoà Bình) 500ha, vùng Việt Bắc 500ha và các vùng còn lại khác 500ha (Nguyễn Quốc Hiếu (1993) [20]. 8 Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cây ăn quả có múi, song những vùng cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc Sơn, cam Sành Hàm Yên. với tổng diện tích của cả nước năm 2013 là 70.
Phân bố ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Các vùng trồng cam có diện tích lớn là Đồng bằng sông Cửu Long 36.800 ha, vùng Trung du và miền núi phía bắc 13.800 ha và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 7. Đặc điểm sinh vật học và yêu cầu ngoại cảnh của cây cam quýt 1. Một số đặc điểm thực vật học chính của cam quýt 1.
Đặc điểm rễ cam quýt Rễ cam, quýt nói chung thuộc loại rễ nấm (Micorhiza), nấm Micorhiza sống cộng sinh trên lớp biểu bì của rễ, có vai trò như những lông hút ở các cây trồng và thực vật khác, cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ chất hữu cơ cho cây, cây cung cấp hydrat carbon cho nấm (Trần Thế Tục (1990) [29], Viện Bảo vệ thực vật (2001) [30]). Do những đặc điểm trên mà cây ăn quả có múi không ưa trồng sâu, vì rễ cam quýt chủ yếu là rễ bất định, phân bố rất nông (10-30cm), phân bố tương đối rộng và tập trung ở tầng đất mặt. Tuy nhiên, mức độ phân bố sâu hay rộng phụ thuộc vào loại đất, đặc tính của giống, cách nhân giống, chế độ chăm bón, tầng canh tác và mực nước ngầm. Đặc biệt là biện pháp kỹ thuật canh tác như: Làm đất, bón phân, phương pháp nhân giống, giống gốc ghép và giống cây trồng.
9 Nghiên cứu sự phát triển của bộ rễ cam trên một số loại đất ở vùng Phủ Quỳ Nghệ An, tác giả Trần Thế Tục [29] nhận xét: “Trên ba loại đất trồng cam: đất Bazan, đất phiến thạch, đất dốc tụ thì thấy trên đất bazan rễ cam ăn sâu và xa nhất. Cùng trồng trên một loại đất và cùng có chế độ chăm sóc, các giống cam khác nhau có sự phân bố bộ rễ khác nhau. Giống cam có bộ tán khoẻ tương ứng, có bộ rễ phát triển tốt và ngược lại”. Nhìn chung rễ cam quýt hoạt động mạnh ở thời kỳ 1- 8 năm tuổi sau trồng, sau đó giảm dần và khả năng tái sinh kém.
Trong một năm cam quýt có 3 thời kỳ rễ hoạt động mạnh: Trước khi ra cành xuân (tháng 2 đến đầu tháng 3); sau rụng quả sinh lý lần 1 (lúc cành hè xuất hiện) và cành thu đã sung sức (tháng 9-10). Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ cam quýt: Nhiệt độ thích hợp trên dưới 260C; Đất thoáng và đủ ẩm (60%); độ chua pH = 4-8 và tối thích là 5,5-6,5, nhiều mùn, đủ dinh dưỡng, đủ chất kích thích sinh trưởng vv. Đặc điểm thân, cành Theo tác giả Phạm Thừa (1965) [26]: Đặc điểm thân, cành tuỳ thuộc giống, tuổi cây, điều kiện sinh sống, hình thức nhân giống mà cây có chiều cao và hình thái khác nhau.