Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây quýt là cây trồng bản địa và đã có từ lâu đời tại địa phương. Quýt được trồng tại địa phương từ khoảng 100 đến hơn 100 năm nay. Theo thống kê vào năm 2015, cây quýt Bắc Kạn đang được trồng tại hầu hết các huyện với tổng diện tích khoảng 2.
Trong đó, vùng trồng tập trung là các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn và Ba Bể với diện tích trên 1. Xã Quang Thuận thuộc huyện Bạch Thông là xã có diện tích lớn nhất với khoảng 900 ha. Đối với tỉnh Bắc Kạn, cây quýt không chỉ mang lại giá trị về kinh tế mà còn mang giá trị và ý nghĩa xã hội rất lớn. Quýt vừa là cây xóa đói giảm nghèo, vừa là cây làm giàu của bà con nơi đây.
Mặc dù có chất lượng tốt và được người dân nhiều vùng biết đến nhưng cơ cấu giống tại tỉnh chưa phong phú, chất lượng hiệu quả chưa cao. Hiện nay, tại nhiều vùng trồng cam, quýt trên địa bàn tỉnh đã có rất nhiều các giống quýt mới được nghiên cứu khảo nghiệm trước khi đưa vào sản xuất đại trà như giống quýt đường không hạt được khảo nghiệm, thông qua việc khảo nghiệm đánh giá giống trước khi đưa vào sản xuất sẽ giúp cho việc đánh giá được khả năng thích ứng của giống đó có phù hợp với vùng sinh thái không và là cơ sở cho việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thích ứng cho giống đó. Để phát huy được các đặc tính tốt của giống mới và tránh những rủi ro do giống không thích ứng với điều kiện sinh thái tại cơ sở sản xuất thì trước khi đưa các giống quýt mới vào trồng thử nghiệm sản xuất đại trà nhất thiết phải tiến hành đánh giá quá trình sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và tính thích ứng với điều kiện sinh thái của vùng đó. Vì vậy, khảo nghiệm là một trong những khâu rất quan trọng trong công tác giống góp phần tạo cho cây có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất, chất lượng cao ở giai đoạn sản xuất.
5 Sâu bệnh hại là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây quýt. Đặc biệt là ở giai đoạn kiến thiết cơ bản khả năng chống chịu sâu bệnh của cây rất kém, trong đó đáng kể nhất là sâu vẽ bùa. Do vậy, để giảm ảnh hưởng của sâu bệnh đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về biện pháp phòng trừ như trồng xen cam quýt với ổi, sử dụng các loại thuốc thích hợp trong phòng trừ sâu bệnh hại. Phân bón là một trong những yếu tố quan trọng góp phần bổ sung dinh dưỡng cho cây, tạo cho cây có sức sinh trưởng phát triển tốt, có khả năng chống chịu với sâu bệnh hại.
Hiện nay, đã có rất nhiều kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón gốc, phân bón lá đến sinh trưởng phát triển của cây, các kết quả nghiên cứu cho thấy cây trồng nếu được bón phân và chăm sóc tốt sẽ tạo cho cây có sức sinh trưởng tốt chống chịu được với sâu bệnh hại tốt hơn so với cây trồng không được chăm sóc. Do vậy việc nghiên cứu đánh giá giống và lựa chọn được biện phát kỹ thuât thích hợp cho giống quýt ngọt tại địa phương là cần thiết.2 Đặc điểm thực vật học ở cây cam quýt 1. Đặc điểm của rễ Theo Trần Thế Tục và ctv. (1998) [14], rễ cam quýt phân bố nông, rễ bất định phân bố tương đối rộng và dày đặc ở tầng đất mặt, ở tầng sâu 10 - 30 cm, hoạt động mạnh thời kỳ 1 - 8 năm tuổi sau trồng, sau đó suy giảm nhiều và tái sinh kém.
Rễ cam quýt thường mọc cạn, đa số rễ hút dinh dưỡng phân bố gần lớp đất mặt, sự phát triển của rễ thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất. Rễ cam quýt thuộc rễ cọc, thời gian đầu chủ yếu là rễ cám, phát triển trên tầng đất mặt. Loài cây làm gốc ghép có ảnh hưởng đến sự phân bố của bộ rễ như gốc cam Ba Lá có rễ ăn cạn. Cùng một gốc ghép nhưng khi ghép các giống khác nhau cũng ảnh hưởng đến sự phân bố của rễ, cam Sunkist ghép trên gốc bưởi có bộ rễ ăn sâu hơn cam Bố Hạ cùng ghép trên gốc bưởi.
Đặc điểm của thân Hoàng Ngọc Thuận (1995) [15] cam quýt thuộc dạng thân gỗ, hình bán trụ, cây trưởng thành có thể có từ 4 - 6 cành chính. Tùy theo tuổi, điều kiện sống và phương pháp nhân giống mà cây có 7 chiều cao và hình thái khác nhau. Tán cây hình trụ hoặc hình cầu, phân cành nhiều. Cành cam quýt có thể có gai hoặc không có gai do gai xuất hiện khi cây còn non nhưng khi cây lớn hoặc già thì gai có thể rụng đi.
Một số loài không có gai nhưng khi nhân giống bằng hột lại xuất hiện rất nhiều gai trên thân và cành, nhưng càng ở cấp cành cao thì ít gai và gai ngắn. cây quýt ngọt có rất nhiều gai xanh, cứng, đặc điểm này có thể do cây được trồng từ những cành chiết của cây gieo từ hột. Cây trồng bằng hột có gai nhưng cây tháp có rất ít hoặc không gai (Trần Thượng Tuấn và ctv. Cành cam quýt phát triển theo lối hợp trục (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) [13].
Chồi ngọn hay chồi bên của thân sau một thời gian bị chết đi hoặc không sinh trưởng nữa, các chồi bên phát triển sẽ thay thế các chồi ngọn, trục chính nghiêng sang một bên. Chồi bên phát triển thẳng đứng như là tiếp tục sự sinh trưởng của thân chính. Cành bên này phát triển giống thân chính và lặp lại (Hà Thị Lệ Ánh, 2005) [1]. Hằng năm trên các cây cam quýt sinh thêm những mầm mới trên cành, tạo lộc, từ các lộc này trong điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, nước, chất dinh dưỡng đầy đủ sẽ tạo ra cành mới, từ các cành này tạo ra hoa và quả (Nguyễn Hữu Đống và ctv.
Nhiệt độ đất và không khí có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cam quýt: phát lộc và sinh cành mới (Hoàng Ngọc Thuận, 1995) [15]. Quýt ngọt có thể ra đọt rải rác quanh năm tùy tình trạng dinh dưỡng của cây và ẩm độ đất (Trần Thượng Tuấn và ctv, 1999) [19]. Đặc điểm của lá Lá cam quýt thuộc loại lá đơn gồm có cuống lá, cánh lá và phiến lá. Hình dạng và kích thước lá thay đổi tùy theo loài, bưởi có cánh lá lớn, cam ngọt có cánh lá trung bình và thanh yên không có cánh lá.
Theo Đường Hồng Dật 2000 [8]. Hình dáng lá cam quýt rất khác nhau, có thể nhọn đuôi lá hoặc chẻ lõm, các loài quýt thường có đuôi lá chẻ lõm xuống ở phía mút lá. 7 Theo Nguyễn Văn Luật (2006) [12] cho rằng lá cam quýt có khía răng cưa, mặt dưới có màu xanh lợt, cuống lá có cánh nhỏ. Chiều dài lá trưởng thành khoảng 8,4 cm và chiều rộng lá khoảng 4,2 cm.
Cuống lá ngắn với chiều dài trung bình 3,3 mm, cánh lá hẹp đôi khi không rõ. Theo Phạm Hoàng Hộ (2003) [11], lá quýt Đường có cuống không cánh, phiến lá có nhiều túi tinh dầu dễ thấy.4 Đặc điểm của hoa Mỗi hoa của nhóm cam quýt biến động từ 3 - 7 cánh hoa, có màu trắng, ngoại trừ ở loài chanh có màu tím ở phía ngoài. Hoa đơn thường chỉ có một hoa ở đầu cành. Nhóm hoa chùm trên cành ở mỗi nách lá có 1 hoa và trên ngọn cành có 1 hoa, thông thường có từ 3 - 7 hoa trên một cành, một số cành hoa không có lá, một chùm có 3 - 5 hoa.
Hoa của nhóm cam quýt thuộc dạng chùm, hoa đính trên cuống hoa. Hoa lúc trổ có chiều dài từ 1,3 - 1,5 cm, lá đài 9 có 5 lá dạng giống như cái ly lúc chưa chín thành thục, nụ hoa có dạng tròn, phía đầu của lá đài bao quanh bộ phận hoa bên trong và mở ra khi tràng hoa kéo dài ra. Tràng hoa có 5 cánh hoa màu trắng luân phiên với các lá đài, cánh hoa dày, gắn xen kẽ với nhau. Nhị đực có khoảng 20 - 40 chỉ nhị màu trắng, chúng dính nhau một phần, mỗi chỉ nhị mang một bao phấn có 4 ngăn màu vàng, bao phấn bao quanh gần hoặc ngang với nướm của nhụy cái.
Hoa tiết ra mùi thơm qua đường khí khổng. Đặc điểm của quả Quả được tăng trưởng và phát triển từ bầu noãn, bao gồm một số tâm bì, trái cam quýt có trên 8 tâm bì, chúng sắp xếp quanh lõi. Mối quan hệ tiến hoá, tâm bì được xem là lá, được thay đổi theo hướng đứng dọc, bìa lá uốn cong lại thành trục giữa, do đó sẽ thành lập múi, trong múi có hột và túi chứa nước hay con tép phát triển. Màu sắc của vỏ trái cam quýt thay đổi tuỳ theo giống và tùy thuộc vào điều kiện sinh thái.
Có loại vỏ có màu xanh, hơi có vệt vàng như các giống trồng ở vùng nhiệt đới điển hình là ở miền Nam nước ta. Mặt ngoài vỏ có lớp tế bào sừng và có rất nhiều túi tinh dầu để bảo vệ. Lớp giữa vỏ ngoài và múi là lớp vỏ trắng xốp, vỏ 10 trái có thể dễ tách khỏi thịt trái như quýt, nhưng cũng có khi rất khó tách. Vỏ trái cam quýt bao gồm phần bên ngoài có màu sắc gọi là ngoại quả bì chứa lớp cutin và một vài tế bào nhu mô dày, phía trong của ngoại quả bì có chứa nhiều túi tinh dầu.
Trong giai đoạn đầu phát triển trái, ngoại quả bì có màu xanh đậm và chiếm từ 60 - 8 90% thể tích trái. Khi trái gần chín diệp lục tố dần dần biến mất và lục lạp chuyển thành sắc lạp giàu thể carotene và ngoại quả bì trở nên mỏng hơn. Đặc tính không hột ở quýt Đặc tính không hột là một đặc điểm quý của trái cây nói chung và cam quýt (Citrus) nói riêng vì đó là đặc tính mong muốn của thị trường trái tươi và ngay cả ngành chế biến nước ép. Vì nước ép từ trái cam quýt có hột thường có mùi không thích hợp và còn có vị đắng.
Cam quýt thương mại thường có rất ít hột, trung bình ít hơn 2 hoặc 1,5 hột/trái được xem như không hột. Quả trung bình 2,3 hột/trái được coi là không hột. Trái cam quýt được xem là không hột khi số hột nhỏ hơn 5 hột. Ở Mỹ trái cam được xem là không hột khi có từ 0 - 6 hột.
Đặc tính không hột của cam quýt có nhiều yếu tố chi phối và còn chịu ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường.