Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây bưởi (Citrus grandis) là loài cây ăn quả có múi giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nhiều quốc gia châu Á và Việt Nam nhờ khả năng thích nghi sinh thái rộng, tuổi thọ cao cùng giá trị thương phẩm tốt. Tại thành phố Hà Nội, cơ cấu cây có múi có sự góp mặt của 12 giống bưởi khác nhau như bưởi Diễn, bưởi Tam Vân, bưởi đường Hiệp Thuận, bưởi La Tinh, bưởi Thồ, bưởi Quế Dương, bưởi đỏ Tân Lạc, bưởi đỏ bánh men, bưởi đỏ lũm. Tuy nhiên, một hạn chế lớn trong sản xuất là khoảng 70% các giống bưởi hiện nay tại địa phương đều cho thu hoạch tập trung vào dịp cận Tết Nguyên đán, tạo ra áp lực tiêu thụ và cạnh tranh thị trường lớn. Nhằm đa dạng hóa cơ cấu mùa vụ, việc thu thập, bảo tồn và phát triển các nguồn gen bưởi chín sớm trở thành định hướng ưu tiên của ngành nông nghiệp Thủ đô.
Giống bưởi Thồ bản địa có nguồn gốc lịch sử khoảng 70 năm tại thôn Hòa Thượng, xã Bạch Hạ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Đây là giống bưởi chín sớm đặc thù, cho thu hoạch đúng vào dịp rằm Trung thu hàng năm (tháng 9 dương lịch), quả dạng bầu dục, tép giòn, mọng nước, múi ráo, vị ngọt mát. Từ quy mô phân tán trong các vườn tạp, giống bưởi này đã được mở rộng lên hơn 150 hộ canh tác với tổng diện tích 28,7 ha tại xã Bạch Hạ, trong đó có khoảng 20 hộ trồng quy mô từ 5 sào đến 1 mẫu. Mặc dù có tiềm năng kinh tế cao, quá trình thâm canh bưởi Thồ tại địa phương đang đối mặt với các trở ngại sinh học lớn: cây ra hoa không tập trung, hiện tượng cách niên (năm được mùa, năm mất mùa), tỷ lệ đậu hoa và đậu quả tự nhiên đạt mức rất thấp. Nhằm khắc phục các tồn tại này thông qua các giải pháp kỹ thuật canh tác tác động cơ giới và điều tiết sinh sản, đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp đốn tỉa và thụ phấn bổ sung đến năng suất giống bưởi Thồ tại Phú Xuyên, Hà Nội" đã được thực hiện.
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của giống bưởi Thồ và xác định ảnh hưởng của biện pháp đốn tỉa sau thu hoạch cũng như thụ phấn bổ sung đến các yếu tố cấu thành năng suất, từ đó cung cấp căn cứ thực nghiệm phục vụ việc xây dựng quy trình canh tác cho năng suất cao và ổn định.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 3 yêu cầu:
- Nghiên cứu được một số đặc điểm nông sinh học của giống bưởi Thồ trồng tại Phú Xuyên, Hà Nội: Đặc điểm hình thái, sinh trưởng của giống bưởi Thồ.
- Đánh giá được ảnh hưởng của việc đốn tỉa hạ độ cao sau thu hoạch và tác dụng của thụ phấn bổ sung đến thời gian ra lộc, chất lượng lộc, thời gian hoa, quả, tỉ lệ đậu quả trên cây bưởi Thồ.
- Đánh giá được ảnh hưởng của đốn tỉa hạ độ cao sau thu hoạch và tác dụng của thụ phấn bổ sung đến một số yếu tố cấu thành năng suất của giống bưởi Thồ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các cá thể cây bưởi Thồ 6 năm tuổi, có độ đồng đều về sinh trưởng và phát triển ban đầu, được trồng và chăm sóc trong cùng điều kiện đồng ruộng.
- Phạm vi không gian: Vườn bưởi tại thôn Hòa Thượng, xã Bạch Hạ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực nghiệm được triển khai từ tháng 01/2021 đến tháng 09/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phân loại thực vật học của Swingle và Tanaka đối với chi Citrus, họ phụ Aurantioideae, họ Rutaceae; trong đó loài bưởi được định danh khoa học là Citrus grandis (L.) Osbeck (phân biệt với bưởi chùm Citrus paradisi). Khung sinh lý học cây ăn quả có múi tập trung vào mối quan hệ giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực: tác động loại bỏ ưu thế ngọn bằng cơ giới giúp điều tiết dinh dưỡng nuôi chồi bên, hạn chế tán cao vươn dài, tăng cường khả năng quang hợp của tán lá thông qua tạo tán mở; đồng thời giải quyết hiện tượng tự bất tương hợp hoặc giảm khả năng tự thụ tinh của nhụy cái thông qua việc cung cấp nguồn hạt phấn ngoại lai từ các giống cùng loài.
Các văn bản quy chuẩn, biểu mẫu và phương pháp chuyên ngành được tác giả áp dụng gồm:
- Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) cho cây bưởi do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành năm 2020.
- Biểu mẫu mô tả đánh giá nông sinh học cây có múi của Trung tâm Tài nguyên thực vật ban hành theo Quyết định số 420/QĐ-TTTN-KH ngày 16/8/2013.
- Phương pháp thử sức nảy mầm hạt phấn của Sacdacov (1965) và phương pháp nhuộm màu hạt phấn bằng dung dịch KI 1%.
- Quan sát giải phẫu và hình thái cơ quan sinh sản bằng kính lúp soi nổi và kính hiển vi quang học trong phòng thí nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng được thiết kế theo 3 nội dung chính:
Nội dung 1: Đánh giá đặc điểm nông sinh học giống bưởi Thồ
Theo dõi quan trắc ngoài đồng ruộng và kiểm tra trong phòng thí nghiệm trên mẫu chuẩn: đo đếm 30 lá thành thục, 30 hoa hoàn chỉnh và 30 quả chín thu hoạch; so sánh hình thái với 7 giống bưởi đối chứng (bưởi Luận Văn, bưởi Tân Lạc, bưởi Diễn, bưởi Đào Sớm, bưởi Thồ Đào, Pomelo, bưởi Đoan Hùng).
Nội dung 2: Thí nghiệm ảnh hưởng của biện pháp đốn tỉa
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn trên cây 6 năm tuổi gồm 3 công thức, nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại là 1 cây (tổng số 9 cây), kỹ thuật tác động thực hiện vào ngày 10/11/2020:
- CT1: Đối chứng (không đốn tỉa, để tự nhiên).
- CT2: Đốn tỉa 1 lần/năm: Hạ độ cao tán cây xuống 2,5 - 3,0 m, tạo hình tán mở, tỉa cành sâu bệnh, cành tăm, cành vượt sau thu hoạch.
- CT3: Đốn tỉa 2 lần/năm: Hạ độ cao, tỉa cành sau thu hoạch kết hợp tỉa quả sau khi đậu quả (thực hiện khi quả đạt đường kính 5 - 6 cm, tỉa bỏ quả vẹo, dị hình, sâu bệnh, khống chế mật độ 1 - 2 quả/chùm).
Nội dung 3: Thí nghiệm ảnh hưởng của thụ phấn bổ sung
Thí nghiệm bố trí ngẫu nhiên gồm 6 công thức, nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại là 1 cây (tổng số 18 cây). Trên mỗi cây chọn 4 cành cấp 2 phân bố đều ở 4 hướng tán:
- CT1: Đối chứng (để tự nhiên).
- CT2: Thụ phấn bổ sung bằng nguồn phấn lấy từ bưởi Đào Sớm.
- CT3: Thụ phấn bổ sung bằng nguồn phấn lấy từ bưởi Luận Văn.
- CT4: Thụ phấn bổ sung bằng nguồn phấn lấy từ bưởi Thồ Đào.
- CT5: Thụ phấn bổ sung bằng nguồn phấn lấy từ bưởi Tân Lạc.
- CT6: Thụ phấn bổ sung bằng nguồn phấn lấy từ bưởi Diễn.
Kỹ thuật thụ phấn: Lấy hoa lúc chớm nở, dùng panh kẹp loại bỏ cánh hoa và nhụy để lấy bao phấn mang đi thụ; quẹt phấn trực tiếp lên đầu nhụy hoa bưởi Thồ vào 2 khung giờ trong ngày (sáng từ 8h30 - 10h30, chiều từ 14h00 - 16h00), thực hiện liên tục trong thời gian hoa nở rộ; sử dụng túi bao chuyên dụng bao cách ly để ngăn chặn các nguồn phấn ngoài ý muốn.
Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thực nghiệm được tính toán giá trị trung bình trên Microsoft Excel và phân tích phương sai thống kê sinh học bằng phần mềm IRRISTAT 5.0 để so sánh mức sai khác qua giá trị $LSD_{0,05}$ và hệ số biến động ($CV%$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn và phát triển cây ăn quả bản địa chín sớm trong bối cảnh thị trường bưởi Hà Nội bị áp lực tiêu thụ cục bộ vào dịp Tết. Giới thiệu tổng quan về lịch sử, vị trí địa lý của nguồn gen bưởi Thồ tại xã Bạch Hạ, huyện Phú Xuyên và chỉ ra các rào cản kỹ thuật địa phương đang gặp phải như hiện tượng ra hoa phân tán, tỷ lệ đậu quả kém. Xác định rõ mục đích nghiên cứu và 3 yêu cầu kỹ thuật cần giải quyết trong đề tài.
Phần II: Tổng quan tài liệu
Tác giả tổng hợp nguồn gốc phát sinh loài cây có múi từ khu vực Nam Á, dãy Himalaya, miền Nam Trung Quốc và bán đảo Đông Dương theo các công trình của Tanaka, Swingle, Robert, Bretschneider và Vũ Công Hậu. Tổng kết tình hình sản xuất bưởi trên thế giới giai đoạn 2015 - 2019 dựa trên số liệu FAOSTAT (2021): năm 2019, diện tích bưởi toàn cầu đạt 346.191 ha, năng suất 268 tạ/ha, sản lượng đạt 9,28 triệu tấn; trong đó châu Á dẫn đầu với 211.413 ha (chiếm 61,06% diện tích) và sản lượng đạt 6,75 triệu tấn (chiếm 72,8% toàn cầu). Trung Quốc là quốc gia có quy mô lớn nhất thế giới với diện tích 93.370 ha và sản lượng trên 5,01 triệu tấn.
Tại Việt Nam, diện tích cây có múi năm 2019 đạt 256,86 nghìn ha với sản lượng 2,46 triệu tấn; riêng diện tích bưởi đạt 65.868 ha và sản lượng 818 nghìn tấn. Ba vùng trồng tập trung chính gồm Đồng bằng sông Cửu Long (74.400 ha cây có múi), Bắc Trung Bộ (16.520 ha) và Trung du miền núi phía Bắc. Tại Hà Nội, diện tích trồng bưởi năm 2020 đạt 6.743,87 ha (diện tích cho thu hoạch trên 5.300 ha), năng suất bình quân 16,8 tấn/ha, sản lượng 89.853 tấn. Chương này cũng phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu về cắt tỉa tạo tán chữ Y, tỉa cành sau thu hoạch và tỉa quả nhằm khống chế chiều cao cây, cũng như các nghiên cứu thụ phấn chéo nâng cao tỷ lệ đậu quả trên bưởi Sa Điền (Quảng Tây, Trung Quốc), bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh) và bưởi Diễn.
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết địa bàn thực hiện tại thôn Hòa Thượng, xã Bạch Hạ; các trang thiết bị, dụng cụ chuyên dụng (kéo cắt cành, cưa đốn, túi bao hoa, kính hiển vi, hóa chất kiểm tra hạt phấn). Trình bày hệ thống 3 nội dung nghiên cứu, thiết kế chi tiết quy mô các ô thí nghiệm đốn tỉa (3 công thức, 9 cây) và thí nghiệm thụ phấn bổ sung (6 công thức, 18 cây). Quy định chi tiết các chỉ tiêu nông sinh học cần theo dõi từ kích thước phiến lá, giải phẫu cấu trúc hoa, các giai đoạn phát sinh 3 đợt lộc, tỷ lệ đậu quả sau 30 ngày tắt hoa, các yếu tố cấu thành kích thước quả đến phương pháp phân tích phương sai trên phần mềm IRRISTAT 5.0.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu được từ quá trình theo dõi ngoài đồng ruộng và kiểm tra phòng thí nghiệm qua 3 nhóm nội dung chính:
Đặc điểm nông sinh học giống bưởi Thồ:
- Hình thái lá: Lá bưởi Thồ thuộc dạng lá đơn có eo lá nhỏ, màu xanh trung bình, đỉnh hơi nhọn có vết xẻ, mép lá dạng khía, mặt phiến phẳng hoặc hơi lõm. Chiều dài phiến lá đạt 12,63 ± 1,70 cm, chiều rộng phiến lá 6,89 ± 1,14 cm; chiều dài eo lá 2,41 ± 0,51 cm, chiều rộng eo lá 1,92 ± 0,35 cm; cuống lá dài 0,71 ± 0,08 cm. Tỷ lệ chiều dài/chiều rộng phiến lá là 1,83 và eo lá là 1,25 (thuộc nhóm trung bình khi so sánh với các giống bưởi khác).
- Hình thái hoa và sức sống hạt phấn: Hoa lưỡng tính, mọc thành cụm hoặc đơn độc ở nách lá và đầu cành; cánh hoa màu trắng dày; số cánh hoa trung bình 4,27 ± 0,45 cánh; số chỉ nhị trung bình 27,1 ± 2,58; chiều dài nhị 1,68 ± 0,12 cm; chiều dài nhụy 1,60 ± 0,08 cm. Bầu nhụy bưởi Thồ có chiều dài đạt 0,74 ± 0,06 cm, cao nhất trong các giống so sánh. Tuy nhiên, tỷ lệ nảy mầm hạt phấn tự thân của bưởi Thồ chỉ đạt 30%, thấp nhất trong tập đoàn giống theo dõi (trong khi bưởi Luận Văn và Tân Lạc đạt 60 - 65%).
| Chỉ tiêu theo dõi |
Bưởi Thồ |
Bưởi Thồ Đào |
Bưởi Diễn |
Bưởi Đào Sớm |
Bưởi Luận Văn |
Bưởi Tân Lạc |
Bưởi Đoan Hùng |
| Chiều dài phiến lá (cm) |
12,63 ± 1,70 |
11,13 ± 1,31 |
9,96 ± 1,50 |
14,96 ± 1,23 |
14,48 ± 0,78 |
12,28 ± 0,77 |
9,15 ± 0,77 |
| Chiều rộng phiến lá (cm) |
6,89 ± 1,14 |
7,53 ± 1,25 |
6,22 ± 0,95 |
7,60 ± 0,61 |
6,32 ± 0,63 |
6,53 ± 0,50 |
6,08 ± 0,54 |
| Chiều dài eo lá (cm) |
2,41 ± 0,51 |
3,27 ± 0,48 |
3,17 ± 0,39 |
4,20 ± 0,52 |
5,04 ± 0,77 |
2,80 ± 0,31 |
3,13 ± 0,35 |
| Số chỉ nhị/hoa |
27,1 ± 2,58 |
30,2 ± 2,59 |
24,4 ± 2,19 |
32,4 ± 2,67 |
30,0 ± 2,57 |
22,8 ± 1,65 |
12,7 ± 1,90 |
| Chiều dài bầu nhụy (cm) |
0,74 ± 0,06 |
0,74 ± 0,06 |
0,61 ± 0,05 |
0,71 ± 0,08 |
0,69 ± 0,05 |
0,61 ± 0,06 |
0,68 ± 0,09 |
| Tỷ lệ nảy mầm phấn (%) |
30 |
34 |
45 |
42 |
65 |
60 |
38 |
- Đặc điểm quả thương phẩm: Quả có dạng hình bầu dục, vỏ khi chín màu vàng sáng, bề mặt bóng với độ sần và kích cỡ túi tinh dầu trung bình; chiều cao quả đạt 15,8 ± 1,39 cm, đường kính 13,83 ± 1,41 cm; khối lượng quả trung bình 1.265,3 ± 113,59 g; khối lượng thịt quả 716,3 ± 70,55 g; khối lượng vỏ 549,0 ± 69,36 g; tỷ lệ phần ăn được đạt 56,6%; quả có trung bình 12 múi và 45,5 hạt; tép bưởi màu vàng đậm, giòn, mọng nước, vị thơm đặc trưng.
- Chu kỳ sinh trưởng phát triển: Cây phát sinh 3 đợt lộc trong năm gồm lộc xuân (20/01 đến 08/03, kéo dài 35 - 42 ngày), lộc hè (28/03 đến 10/05, kéo dài 40 - 46 ngày), lộc thu (10/08 đến 30/09, kéo dài 42 - 47 ngày). Giai đoạn nở hoa kéo dài 34 - 38 ngày (từ 05/02 đến 15/03, hoa nở rộ từ 20/02 đến 05/03). Thời gian chín và thu hoạch diễn ra tập trung trong khoảng 15 - 18 ngày (từ 05/09 đến 30/09, thu hoạch rộ từ 11/09 đến 19/09).
Ảnh hưởng của biện pháp đốn tỉa đến sinh trưởng cành lộc và năng suất:
Biện pháp đốn tỉa sau thu hoạch (thực hiện ngày 10/11/2020) giúp cây bật lộc xuân sớm hơn từ 5 - 7 ngày so với đối chứng (CT2 và CT3 bắt đầu nhú lộc từ 21/01 - 22/01, trong khi đối chứng CT1 đến 28/01 - 09/02 mới xuất hiện). Cành lộc ở cả 3 công thức tăng trưởng chiều dài và đường kính mạnh nhất trong 21 ngày đầu sau khi nhú lộc, sau đó ổn định dần và thành thục ở ngày thứ 42.
| Công thức thí nghiệm |
Chiều dài lộc thành thục (cm) |
Đường kính lộc thành thục (cm) |
Số lá trên cành lộc (lá/lộc) |
Chiều dài phiến lá lộc (cm) |
Chiều rộng phiến lá lộc (cm) |
| CT1 (Đối chứng) |
11,03 |
0,35 |
7,33 |
12,63 |
6,76 |
| CT2 (Đốn tỉa 1 lần) |
11,57 |
0,38 |
8,00 |
12,77 |
6,83 |
| CT3 (Đốn tỉa 2 lần) |
11,45 |
0,39 |
8,17 |
12,89 |
7,00 |
| $LSD_{0,05}$ |
1,80 |
0,07 |
1,62 |
1,42 |
1,16 |
| $CV%$ |
7,10 |
8,60 |
9,10 |
4,90 |
7,50 |
Kết quả xử lý thống kê cho thấy sự sai khác về kích thước lộc giữa các công thức đốn tỉa và đối chứng chưa đạt mức có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95% ($p > 0,05$), tuy nhiên đốn tỉa 2 lần (CT3) đem lại số lá/lộc (8,17 lá) và diện tích bề mặt lá cao nhất. Quá trình theo dõi đậu quả và năng suất cho thấy đốn tỉa 2 lần (hạ tán sau thu hoạch kết hợp tỉa bớt quả dị hình sau đậu quả) tạo độ thông thoáng tán, nâng cao rõ rệt tỷ lệ đậu quả, kích thước quả và số lượng quả thương phẩm lưu lại trên cây so với đối chứng không cắt tỉa.
Ảnh hưởng của biện pháp thụ phấn bổ sung:
Thụ phấn bổ sung bằng các nguồn phấn ngoại lai mang lại hiệu quả cải thiện rõ rệt so với đối chứng để tự nhiên. Trong 5 nguồn phấn thử nghiệm (bưởi Đào Sớm, bưởi Luận Văn, bưởi Thồ Đào, bưởi Tân Lạc, bưởi Diễn), công thức sử dụng hạt phấn của giống bưởi Đào Sớm (CT2) giúp tỷ lệ đậu quả bưởi Thồ tăng cao nhất và thể hiện sự vượt trội về động thái tăng trưởng đường kính quả, chiều cao quả và số quả đậu ổn định trên cây.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khóa luận tổng kết lại các thông số nông sinh học chuẩn của giống bưởi Thồ; khẳng định vai trò tích cực của việc đốn tỉa 2 lần/năm và kỹ thuật thụ phấn nhân tạo bằng nguồn phấn bưởi Đào Sớm trong việc giải quyết hiện tượng rụng hoa, rụng quả sinh lý và nâng cao năng suất. Đồng thời, tác giả đề xuất việc ứng dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật này vào thực tiễn thâm canh tại địa phương và mở rộng khảo nghiệm nhằm xây dựng quy trình bảo quản quả sau thu hoạch.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại các kết quả thực nghiệm định lượng cụ thể:
- Xác lập bộ dẫn liệu hình thái và nông sinh học chi tiết của giống bưởi Thồ: Cây sinh trưởng 3 đợt lộc/năm; thời gian nở hoa kéo dài 34 - 38 ngày (tháng 2 đến tháng 3); quả dạng bầu dục, khối lượng trung bình 1.265,3 g, tỷ lệ phần ăn được đạt 56,6%, tép giòn mọng, màu vàng đậm; thời gian thu hoạch chín sớm từ ngày 05/09 đến 30/09 (trung bình 15 - 18 ngày).
- Phát hiện nguyên nhân sinh học then chốt dẫn đến tỷ lệ đậu quả thấp ở bưởi Thồ trong điều kiện tự nhiên: Tỷ lệ nảy mầm của hạt phấn tự thân bưởi Thồ chỉ đạt 30%, thấp hơn rất nhiều so với các giống bưởi khác (bưởi Tân Lạc đạt 60%, bưởi Luận Văn đạt 65%).
- Xác định hiệu quả của kỹ thuật đốn tỉa: Đốn tỉa hạ độ cao xuống 2,5 - 3,0 m và tạo tán mở sau thu hoạch kích thích cây bật lộc xuân sớm hơn từ 5 - 7 ngày, nâng cao số lượng lá trên cành lộc lên 8,00 - 8,17 lá/lộc; áp dụng đốn tỉa 2 lần/năm (sau thu hoạch và tỉa quả ở đường kính 5 - 6 cm) đem lại hiệu quả tốt nhất về chất lượng quả và số quả trên cây.
- Xác định nguồn phấn thụ bổ sung tối ưu: Việc thụ phấn nhân tạo bằng nguồn phấn bưởi Đào Sớm vào các khung giờ sáng (8h30 - 10h30) và chiều (14h00 - 16h00) có bao hoa cách ly giúp tỷ lệ đậu quả của bưởi Thồ tăng cao rõ rệt nhất so với việc để thụ phấn tự nhiên.
Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, đây là công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống đầu tiên đánh giá các chỉ tiêu nông sinh học theo TCVN 2020 trên giống bưởi bản địa chín sớm bưởi Thồ tại Phú Xuyên; cung cấp luận cứ thực chứng về cơ chế hạn chế tỷ lệ đậu quả tự nhiên và đề xuất quy trình kỹ thuật kết hợp đốn tỉa với thụ phấn nhân tạo khác giống, góp phần nâng cao năng suất và giải quyết hiện tượng cách niên cho vùng sản xuất bưởi Thồ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Nghiên cứu chỉ được triển khai thực nghiệm trên vườn cây 6 năm tuổi trong phạm vi 1 vụ sản xuất (từ tháng 01/2021 đến tháng 09/2021), do đó chưa đánh giá được ảnh hưởng lũy kế của biện pháp đốn tỉa hạ tán qua nhiều năm liên tiếp đối với chu kỳ sinh trưởng của cây.
- Thời gian theo dõi thực địa của thí nghiệm dừng lại ở mốc 95 ngày sau khi đậu quả; các số liệu mô tả hình thái quả khi chín hoàn toàn trong nội dung 1 phải kế thừa từ kết quả nghiên cứu trước đó của nhóm tác giả Đoàn Thu Thủy và cộng sự.
- Giống bưởi Thồ có chu kỳ chín tập trung và thời gian thu hoạch ngắn (chỉ kéo dài từ 15 đến 18 ngày trong tháng 9), tạo ra áp lực lớn về tiêu thụ tức thời nhưng đề tài chưa có điều kiện nghiên cứu các giải pháp xử lý và công nghệ bảo quản quả sau thu hoạch.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản định hướng:
- Tiếp tục theo dõi tác động của biện pháp đốn tỉa và thụ phấn bổ sung qua nhiều chu kỳ canh tác để kiểm định tính ổn định của năng suất giữa các năm.
- Nghiên cứu các phương pháp bảo quản quả bưởi Thồ sau thu hoạch nhằm kéo dài thời gian thương phẩm.
- Nghiên cứu cơ cấu bố trí trồng xen cây cho phấn (đặc biệt là bưởi Đào Sớm) với mật độ và tỷ lệ phù hợp trong vườn đồn điền bưởi Thồ để tận dụng sự truyền phấn tự nhiên nhờ côn trùng, giảm thiểu chi phí thụ phấn thủ công bằng tay.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo ứng dụng và học thuật đối với các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Di truyền và chọn giống cây trồng: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn trên cây ăn quả lâu năm; quy trình kiểm tra sức sống hạt phấn bằng phương pháp Sacdacov và nhuộm màu KI 1%; quy trình theo dõi các chỉ tiêu nông học theo TCVN 2020 và phương pháp phân tích thống kê sinh học bằng phần mềm IRRISTAT 5.0.
- Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, khuyến nông viên tại thành phố Hà Nội và các tỉnh phía Bắc: Tham khảo số liệu hình thái, quy luật phát sinh các đợt lộc và thời điểm nở hoa của giống bưởi chín sớm phục vụ công tác chỉ đạo mùa vụ và rải vụ thu hoạch.
- Các hộ nông dân và chủ trang trại đang canh tác giống bưởi Thồ tại Phú Xuyên: Áp dụng trực tiếp thông số kỹ thuật đốn tỉa tạo tán mở (khống chế chiều cao 2,5 - 3,0 m), thời điểm cắt tỉa sau thu hoạch (tháng 11), tiêu chuẩn tỉa quả (đường kính 5 - 6 cm, để 1 - 2 quả/chùm) và kỹ thuật lấy phấn, thụ phấn bổ sung bằng phấn bưởi Đào Sớm trong ngày để nâng cao năng suất vườn bưởi.
Câu hỏi thường gặp
1. Điểm đặc thù về thời vụ thu hoạch của giống bưởi Thồ so với các giống bưởi phổ biến tại Hà Nội là gì?
Khoảng 70% các giống bưởi tại Hà Nội (như bưởi Diễn) cho thu hoạch vào dịp cận Tết Nguyên đán. Trong khi đó, giống bưởi Thồ chín sớm và tập trung trong khoảng từ ngày 05/09 đến 30/09 (thời gian thu hoạch kéo dài 15 - 18 ngày), rơi đúng vào dịp Tết Trung thu. Đặc điểm này tạo lợi thế thị trường lớn, tránh được cạnh tranh tiêu thụ chính vụ và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng.
2. Tại sao giống bưởi Thồ khi để thụ phấn tự nhiên lại có tỷ lệ đậu quả rất thấp?
Kết quả kiểm tra trong phòng thí nghiệm cho thấy tỷ lệ nảy mầm hạt phấn của giống bưởi Thồ chỉ đạt 30%, thấp nhất trong tất cả các giống theo dõi (bưởi Diễn đạt 45%, bưởi Tân Lạc đạt 60%, bưởi Luận Văn đạt 65%). Sức sống hạt phấn tự thân kém là nguyên nhân sinh học chính kìm hãm sự thụ tinh của noãn, làm bầu nhụy ngừng phát triển và gây rụng hoa hàng loạt nếu không có nguồn phấn bên ngoài bổ sung.
3. Biện pháp đốn tỉa sau thu hoạch tác động như thế nào đến sự phát sinh và sinh trưởng của lộc xuân trên cây bưởi Thồ?
Đốn tỉa hạ độ cao kết hợp tạo tán mở thực hiện sau thu hoạch (ngày 10/11/2020) giúp cây bưởi Thồ xuất hiện lộc xuân sớm hơn từ 5 - 7 ngày so với đối chứng không đốn tỉa (bắt đầu nhú lộc từ 21/01 - 22/01 so với 28/01 - 09/02 ở đối chứng). Các cành lộc tăng trưởng mạnh nhất trong 21 ngày đầu và thành thục ở ngày thứ 42. Công thức đốn tỉa 2 lần cho số lá trên cành lộc cao nhất (8,17 lá/lộc), tạo diện tích quang hợp lớn nuôi hoa và quả.
4. Trong các nguồn phấn thử nghiệm, nguồn phấn từ giống bưởi nào mang lại hiệu quả đậu quả cao nhất trên bưởi Thồ?
Nghiên cứu thử nghiệm 5 nguồn phấn ngoại lai gồm bưởi Đào Sớm, bưởi Luận Văn, bưởi Thồ Đào, bưởi Tân Lạc và bưởi Diễn. Kết quả xác định nguồn phấn lấy từ cây bưởi Đào Sớm (công thức CT2) giúp tỷ lệ đậu quả bưởi Thồ tăng cao rõ rệt nhất so với việc để thụ phấn tự nhiên, đồng thời cải thiện kích thước và số quả trên cây.
5. Quy trình kỹ thuật thao tác thụ phấn bổ sung bằng tay trong nghiên cứu được tiến hành như thế nào?
Tác giả thu hái hoa ở cây cho phấn (như bưởi Đào Sớm) vào lúc hoa vừa mới nở, dùng panh kẹp loại bỏ cánh hoa và nhụy cái để giữ lại bao phấn; sau đó quẹt phấn trực tiếp lên đầu nhụy của hoa bưởi Thồ đã được tỉa bỏ hoa dị hình trên 4 cành cấp 2. Thao tác được thực hiện vào 2 khung giờ mát: sáng từ 8h30 đến 10h30 và chiều từ 14h00 đến 16h00, thực hiện liên tục cho đến khi hoa nở hết và dùng túi bao chuyên dụng để cách ly nguồn phấn lạ.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Quỳnh Giang đã mô tả toàn diện các đặc tính nông sinh học của giống bưởi bản địa chín sớm bưởi Thồ tại Phú Xuyên, Hà Nội, đồng thời chỉ ra tỷ lệ nảy mầm hạt phấn tự thân thấp (30%) là nguyên nhân sinh học dẫn đến hiện tượng đậu quả kém ở giống cây này. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh việc áp dụng biện pháp đốn tỉa 2 lần/năm (hạ độ cao tán xuống 2,5 - 3,0 m sau thu hoạch kết hợp tỉa bớt quả sau đậu) kích thích cành lộc xuân phát sinh sớm và sinh trưởng khỏe. Đồng thời, kỹ thuật thụ phấn nhân tạo bổ sung bằng nguồn hạt phấn lấy từ giống bưởi Đào Sớm là giải pháp kỹ thuật hiệu quả giúp gia tăng tỷ lệ đậu quả, cải thiện kích thước quả và nâng cao năng suất thương phẩm cho giống bưởi Thồ.