Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với quýt chiềng cọ thành phố sơn la

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với quýt chiềng cọ thành phố sơn, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm nông sinh học của quýt Chiềng Cọ

Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của quýt Chiềng Cọ tại Sơn La tập trung vào các yếu tố hình thái, thời gian sinh trưởng, và khả năng đậu quả. Kết quả cho thấy quýt Chiềng Cọ có thân cây phân cành mạnh, tán rộng, và lá hình bầu dục. Thời gian sinh trưởng của cây chia thành các đợt lộc Xuân, Hè, Thu, và Đông, với tỷ lệ đậu quả cao nhất vào mùa Xuân. Khí hậu Sơn La với lượng mưa và độ ẩm phù hợp là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của cây. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc áp dụng kỹ thuật trồng cây phù hợp có thể cải thiện năng suất và chất lượng quả.

1.1. Đặc điểm hình thái

Quýt Chiềng Cọ có thân cây phân cành mạnh, tán rộng, và lá hình bầu dục. Cây có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện đất đai Sơn La với độ pH trung bình từ 5.5 đến 6.5. Rễ cây phát triển mạnh, giúp cây hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả. Đặc điểm này là cơ sở để áp dụng các biện pháp kỹ thuật như bón phân và tưới nước hợp lý.

1.2. Thời gian sinh trưởng

Thời gian sinh trưởng của quýt Chiềng Cọ chia thành các đợt lộc Xuân, Hè, Thu, và Đông. Đợt lộc Xuân có tỷ lệ đậu quả cao nhất, chiếm 60-70% tổng sản lượng. Khí hậu Sơn La với lượng mưa và độ ẩm phù hợp là yếu tố quan trọng giúp cây phát triển ổn định. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc điều chỉnh thời gian ra lộc có thể hạn chế hiện tượng ra quả cách năm.

II. Biện pháp kỹ thuật trồng quýt Chiềng Cọ

Nghiên cứu đã đề xuất các biện pháp kỹ thuật hiệu quả để nâng cao năng suất và chất lượng quýt Chiềng Cọ. Việc sử dụng phân bón lá giúp cung cấp dinh dưỡng nhanh chóng, đặc biệt trong giai đoạn ra hoa và đậu quả. Bao quả bằng vật liệu phù hợp giúp giảm thiểu sâu bệnh và cải thiện mẫu mã quả. Các biện pháp này không chỉ tăng năng suất mà còn nâng cao giá trị kinh tế cho người trồng.

2.1. Sử dụng phân bón lá

Phân bón lá chứa các nguyên tố vi lượng như kẽm, đồng, và sắt giúp cây quýt Chiềng Cọ sinh trưởng mạnh và đậu quả tốt. Nghiên cứu chỉ ra rằng phun phân bón lá vào giai đoạn ra hoa và đậu quả giúp tăng năng suất lên 20-30%. Kỹ thuật canh tác này cũng giảm thiểu sâu bệnh và cải thiện chất lượng quả.

2.2. Bao quả

Bao quả bằng vật liệu giấy báo hoặc bao xi măng giúp giảm thiểu sâu bệnh, đặc biệt là ruồi vàng. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ quả bị hại giảm từ 15% xuống còn 5% khi áp dụng biện pháp này. Bao quả cũng giúp quả có mẫu mã đẹp, đồng đều, và tăng giá trị thương phẩm.

III. Ứng dụng thực tiễn và giá trị kinh tế

Nghiên cứu đặc điểm nông sinh họcbiện pháp kỹ thuật trồng quýt Chiềng Cọ tại Sơn La có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp địa phương. Các biện pháp đề xuất giúp tăng năng suất, cải thiện chất lượng quả, và nâng cao thu nhập cho người dân. Nông sản Sơn La từ quýt Chiềng Cọ có tiềm năng lớn trong thị trường nội địa và xuất khẩu.

3.1. Tăng năng suất và chất lượng

Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như bón phân lá và bao quả giúp tăng năng suất quýt Chiềng Cọ lên 20-30%. Chất lượng quả cũng được cải thiện đáng kể, với độ ngọt cao và mẫu mã đẹp. Điều này giúp nông sản Sơn La có giá trị thương phẩm cao hơn.

3.2. Phát triển bền vững

Nghiên cứu góp phần xây dựng quy trình canh tác bền vững, giảm thiểu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và tăng cường sản xuất an toàn. Phát triển cây trồng theo hướng bền vững không chỉ nâng cao thu nhập mà còn bảo vệ môi trường.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây Quýt Chiềng Cọ Trong các loại cây ăn quả, cùng với nho, cây có múi có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất. Quá trình sinh trưởng, ra hoa, kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu.

Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một năm, cam quýt thường ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông). Quá trình ra lộc ở cam quýt có liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau. Nếu có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa các bộ phận dưới và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh hại sẽ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cam quýt (Bùi Huy Kiểm, 2000) [13]. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá: Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng.

Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết. Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun phân bón lá cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng. Theo Nguyễn Thị Thuận và cộng sự phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và 5 sinh trưởng sinh thực của cây, nhất là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả (Nguyễn Thị Thuận và Cs, 1996) [23]. Cơ sở khoa học của việc sử dụng biện pháp bao quả cho cây ăn quả Bao quả là một biện pháp kỹ thuật được áp dụng phổ biến đối với tất cả các loại cây ăn quả, là một giải pháp kỹ thuật trong hệ thống phòng trừ sâu, bệnh tổng hợp IPM, ngăn ngừa sâu bệnh tấn công, hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và làm đẹp mã quả (Phạm Hồng Sơn, 2006) [17].

Tuy nhiên, hiệu quả của việc bao quả phụ thuộc vào từng loại quả, thời điểm bao và vật liệu bao, đặc biệt là thời điểm bao. Bao quả bằng các vật liệu giấy báo và bao xi măng đều cho kết quả tốt, tỷ lệ sâu bệnh trên quả giảm rõ rệt (Phạm Hồng Sơn, 2006) [17] Đối với cây có múi nói chung bao quả có những lợi ích trực tiếp như sau: Bao quả chống được sâu, ruồi đục quả, ngài chích hút, chim, thú và bệnh hại quả. Bao quả giúp hình thức bên ngoài bóng đẹp, đồng đều, ít bị rám bởi nắng, không bị trầy xước do gió bão, mưa đá, sương muối hay một số nguyên nhân khác nâng cao độ bóng đẹp cho trái cây, cải thiện chất lượng về mỹ quan, nâng cao độ ngọt, độ tươi mềm của trái cây, cải thiện chất lượng bên trong của quả. Đồng thời làm quả chín sớm, chín đồng đều hơn nên có khả năng cạnh tranh bán sớm trên thị trường và giá thành cao hơn góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, gia tăng thu nhập cho người trồng.

Túi bọc quả có thể kéo dài thời gian bảo quản quả sau thu hoạch, giảm bớt lượng sử dụng thuốc trừ sâu tạo nên nền sản xuất an toàn, than thiện với môi trường, tăng được thu nhập, đẩy mạnh xuất khẩu (Phạm Hồng Sơn, 2006) [17]. Nguồn gốc và phân loại cam quýt 1. Nguồn gốc Phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng nguồn gốc của cây có múi (Citrus) ở Đông Nam Châu Á, trải dài từ Đông Ả Rập tới Philippine và từ Nam dãy Himalaya tới Indonesia, Úc. Trong đó một vùng rộng lớn của Đông 6 Bắc Ấn Độ và Bắc Mianma được cho là trung tâm phát sinh của các loài cây có múi.

Tuy nhiên, những nghiên cứu hiện nay cho rằng tỉnh Vân Nam thuộc trung tâm phía Nam Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên quan trọng của các loài cây có múi (Trần Thế Tục, 1980) [26]. Quê hương của các loài quýt (Citrus reticulate Blanco) được cho là ở Đông Dương và Nam Trung Quốc được những thương gia mang tới miền Đông Ấn Độ. Vùng sản xuất truyền thống của quýt là ở Châu Á. Quýt được đưa đến Châu Âu muộn hơn nhiều so với các cây có múi khác (Nguyễn Thế Huấn, 2015) [11].

Sự di chuyển của cây có múi từ Ấn Độ đến Châu Phi xảy ra trong khoảng những năm từ 700 - 1.400 và các loài cây có múi khác nhau, đặc biệt là chanh giấy và cam đã được nhập nội tới các nước Châu Mỹ bởi những người định cư và các nhà thám hiểm ở vùng Địa Trung Hải thuộc trung tâm Hispaniola và Bahia, Braxin. Cuộc hành trình của cây có múi tới các vùng Châu Mỹ còn do các tín đồ thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic Church) đã phát triển nhiều cây ăn quả trong đó có cây có múi (Nguyễn Thế Huấn, 2015) [11]. Cũng có một số tác giả khác cho rằng nguồn gốc các loại cây có múi ở vùng Nhiệt đới và Á Nhiệt đới thuộc vùng Châu Á, Thái Bình Dương (Herett và Cs, 1962) [42]. Tóm lại, tuy ý kiến của các tác giả có khác nhau song về cơ bản đều thống nhất là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ và Miến Điện.

Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát sinh của một số loài và giống cam, quýt tồn tại cho đến nay. Phân loại cây ăn quả có múi Các loại cây ăn quả có múi được trồng phổ biến hiện nay đều thuộc 3 chi: Citrus, Fortunella và Poncirus. Ba chi này có quan hệ gần gũi, có đặc điểm chung về sinh sản và được phân nhóm dưới tông Citreae, tông phụ Citrinae, họ Rutaceac, họ phụ Aurantoideae (Nobumasa Nito, 2004) [47]. 7 Hệ thống của Swingle và Reece (1967) [50], cho đến nay đã được hầu hết các nhà nghiên cứu thừa nhận có 16 loài, phần lớn các loài cây cam, quýt, chanh, bưởi… thuộc chi Citrus (gồm 2 chi phụ là Eucitrus và Papeda), tộc Citreae, họ phụ Aurantoideae, họ Rutaceae, bộ Geranial.

Nhóm quýt Citrus reticulata tập hợp khá nhiều loài và dạng lai của các vật liệu trong và giữa loài, có một số đặc điểm riêng biệt. Đặc điểm phân biệt rõ nhất của các giống thuần, giống lai thuộc nhóm quýt là rất dễ bóc vỏ, vỏ không có vỏ xốp trắng. Nhóm quýt được chia thành 5 phân nhóm: - Quýt Địa Trung Hải (C.deliciosa Tan) - Quýt Satsuma (C.unshiu Marc) - Quýt Kinh (C.nobolis Lour) - Quýt Đại trà (C.reticulata Blanco) - Quýt quả nhỏ. Ngày nay có hàng loạt các thể đột biến của quýt Satsuma, một số có nguồn gốc phôi tâm đã được phát hiện ở Nhật Bản và Tây Ban Nha.

Giống quýt được trồng rộng rãi nhất thế giới là giống Ponkan, đặc biệt ở Ấn Độ, Trung Quốc, Philippin và Brasil (Nobumasa Nito, 2004) [47]. Theo Võ Văn Chi (1997) [4], ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài. Theo Phạm Hoàng Hộ (1999) [10] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và hoang dại (có 4 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng rộng rãi ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam. Đặc điểm thực vật của cây có múi Theo nhiều tài liệu công bố Akihama và Nito (1996) [35], Lohar và Lama (1997) [46] Chen (1999) [37], Hoàng Ngọc Thuận (2002) [22] .cây ăn quả có múi gồm các bộ phận thực vật cơ bản được mô tả như sau: 1.

Rễ cây ăn quả có múi Rễ cây ăn quả có múi thuộc loại rễ cọc như hầu hết các loại cây 2 lá mầm. Trong thời gian nẩy mầm, ban đầu rễ mầm xuất hiện, nhanh chóng sinh trưởng 8 xuống phía dưới, lớn lên và trở thành rễ cái. Rễ cọc dễ phát hiện ở thời kỳ cây con nhưng khi cây lớn, trưởng thành thì khó phân biệt. Cấu trúc bộ rễ ở cây lâu năm của các loài, giống biến động đáng kể tuỳ thuộc chủ yếu vào loại đất, tầng dầy của đất, chế độ canh tác, tuổi cây…và hình thức nhân giống (gieo hạt, chiết, ghép, giâm).

Rễ mới ra thường có màu trắng, rễ già hơn thì có màu hơi nâu vàng. Khi rễ chuyển sang màu nâu đậm sẽ chết đi. Thân, cành cây ăn quả có múi Cây có múi có dạng cây thân gỗ, cây bụi hoặc cây bán bụi tuỳ loài. Một cây trưởng thành có thể có 4 - 6 cành chính.

Hình thái tán cây rất đa dạng: có loại tán rộng, có loại tán thưa, phân cành hướng ngọn hoặc phân cành ngang; tán hình cầu, hình tròn, hình tháp hoặc hình chổi xể. Cành có thể có gai hoặc không có gai, cũng có thể có gai khi còn non và rụng gai khi cây lớn và già. Một số giống, loài không có gai nhưng khi nhân giống bằng hạt lại xuất hiện gai trên thân và cành, nhưng ở cấp cành càng cao thì gai càng ít và càng ngắn (Hoàng Ngọc Thuận, 2002) [22]. Trên cây cam quýt mọc 2 loại cành chủ yếu: cành dinh dưỡng và cành mang quả.

Cành dinh dưỡng mang cành hoa quả là cành mẹ. Lá cây ăn quả có múi Lá thường có 2 mặt (mặt lá và lưng lá), mặt lá có mô dậu, chứa nhiều nhu mô diệp lục làm nhiệm vụ quang hợp. Độ dày của mô diệp lục thay đổi tuỳ theo giống. Lưng lá có mô xốp, nhiều khí khổng tập trung, phân bố ở mặt lưng lá (mật độ khí khổng phụ thuộc vào từng giống như chanh có 650 khí khổng/mm2, cam khoảng 480 - 500 khi khổng/mm2).

Trong năm cây thường ra 4 đợt lá, lá mùa Xuân, lá mùa Hè, lá mùa Thu và lá mùa Đông. Tuổi thọ, kích thước của lá tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu, chế độ chăm sóc và khả năng dinh dưỡng của cây. Tuổi thọ của lá cam quýt từ 2 - 3 năm tuỳ theo vùng sinh thái, vị trí lá và tình trạng sinh trưởng của cây và cành mang lá, vị trí của cấp cành (Davies và Albrigo, 1994) [38]. Hình thái, độ dày mỏng, kích 9 thước, hình dạng, màu sắc, eo lá… phụ thuộc vào đặc điểm của từng giống (Hoàng Ngọc Thuận, 2002) [22].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật trồng quýt Chiềng Cọ tại Sơn La" tập trung vào việc phân tích các đặc điểm sinh học của giống quýt Chiềng Cọ, đồng thời đề xuất các biện pháp kỹ thuật canh tác hiệu quả tại vùng Sơn La. Nghiên cứu này không chỉ giúp nông dân hiểu rõ hơn về đặc tính của giống quýt này mà còn cung cấp các giải pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai đang tìm kiếm cách thức canh tác bền vững và hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức về các giống cây ăn quả khác, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành trồng tại huyện vị xuyên tỉnh hà giang, hoặc tìm hiểu thêm về các biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng đến năng suất cây trồng qua Luận văn điều tra thực trạng sản xuất và nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất chất lượng giống lê xanh tại huyện bảo lạc tỉnh cao bằng. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá và bao quả đến năng suất và chất lượng bưởi đại minh yên bình yên bái cũng là một tài liệu tham khảo giá trị về việc áp dụng phân bón trong canh tác cây ăn quả.