Đặt vấn đề Cây nho (Vitis Vinifera) là cây ăn quả mang lại rất nhiều mặt có lợi đối với ngƣời sản xuất nho nói riêng và các nƣớc trồng nho nói chung. Theo số liệu của FAO, diện tích trồng cây nho trên thế giới khoảng hơn 7,3 triệu ha, chủ yếu ở châu Âu, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Bồ Đào Nha, Nga và các vùng ở Bắc và Trung Mỹ. Tại các vùng nhiệt đới châu Á cũng có một phần nhỏ diện tích đƣợc trồng tại Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam. Đối với vùng có khí hậu ôn đới, cây nho chỉ cho thu hoạch mỗi năm một vụ, trong khi ở những nƣớc có khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới cây nho có khả năng sinh trƣởng liên tục và cho thu hoạch 2,5 – 3 vụ mỗi năm, mỗi vụ có năng suất bình quân từ 12 – 15 tấn/ha.
Vì vậy, cây nho đƣợc đánh giá là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế rất cao. Ở Việt Nam để đáp ứng nhu cầu quả nho ăn tƣơi chúng ta còn phải dành một lƣợng ngoại tệ đáng kể để nhập từ các nƣớc lân cận nhƣ Trung Quốc, Úc, Thái Lan. Cùng với những TBKH&CN trong lĩnh vực giống, canh tác, diện tích trồng của cả nƣớc khoảng hơn 3000 ha, trong đó tỉnh Ninh Thuận chiếm khoảng 90% tổng diện tích. Không chỉ ở các vùng trồng đã có từ trƣớc, cây nho đã và đang đƣợc xác định là cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao và đƣợc chú ý phát triển ở những vùng cao, thoát nƣớc và nguồn nƣớc tƣới không dồi dào với việc ứng dụng các TBKH&CN về giống, kỹ thuật canh tác, theo hƣớng thâm canh tăng năng suất và chất lƣợng quả.
Tuy nhiên việc ứng dụng các TBKT trong canh tác cây nho còn chậm. Phần lớn các giống đƣa vào là giống nho xanh không rõ nguồn gốc, các giống này có khả năng sinh trƣởng và phát triển tốt nhƣng chất lƣợng quả không cao. Tại Mộc Châu, Sơn La đã trồng thử nghiệm giống nho tím cho năng suất khá cao, tại 1 vƣờn 6 năm tuổi đã đạt hơn 20 tấn/ha trong vụ Xuân Hè (Viện nghiên cứu Rau Quả, 1994). Tại Trung tâm nghiên cứu ứng dụng thuộc Đại học Nông lâm tỉnh Bắc Giang cũng đã kết hợp với phân viện nghiên cứu cây ăn quả- Viện Khoa học nông nghiệp Quảng Tây - Trung Quốc trồng thử nghiệm giống nho Hạ đen từ năm 2016.
Kết quả đánh giá bƣớc đầu qua 2 năm triển khai cho thấy giống nho này có khả năng sinh trƣởng phát triển tốt trong điều kiện đất đai, khí hậu của Việt Yên, Bắc Giang cho quả 2 vụ/năm. Mức độ nhiễm bệnh ở mức trung bình trong điều kiện có mái che. Năng suất giống Hạ đen đạt 16,4 tấn/ha cho năm đầu tiên, chất lƣợng quả tốt, đạt độ Brix từ 18,3 và đặc biệt là không có hạt. Giá bán tại vƣờn khoảng 130 000 VND/kg, cho thấy hiệu quả kinh tế cao, đạt lãi thuần cho năm đầu tiên hơn 46 triệu đồng trên sào Bắc bộ.
Tại Hà Nội, do chƣa đƣợc quan tâm đầu tƣ KHKT nên cây nho ở đây chƣa có điều kiện phát triển đúng với khả năng của giống trồng và kỹ thuật canh tác. Để cây nho có thể cạnh tranh đƣợc với các loại cây ăn quả nhập khẩu cùng loại và hƣớng tới sản xuất nho an toàn để cung cấp cho nhu cầu trong nƣớc cũng nhƣ xuất khẩu cần phải giải quyết nhiều vấn đề trong đó việc ứng dụng các TBKH&CN trong canh tác cây nho (Nhân giống, cắt tỉa, ứng dụng các chất kích thích sinh trƣởng ra hoa kỹ thuật tƣới nhỏ giọt và kỹ thuật làm giàn mái che.giảm thiểu chi phí sản xuất) là việc làm cần thiết nhằm thay đổi cơ cấu cây trồng, tiếp cận công nghệ cao, tăng hiệu quả kinh tế trên diện tích đất nông nghiệp Đề tài “Đánh giá đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của GA3 đến năng suất và chất lượng giống nho Hạ đen tại Hà Nội” nhằm góp phần đƣa và phổ biến các TB KH&CN vào sản xuất cây nho trên địa bàn, phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng công nghệ cao trong canh tác nhằm tăng năng suất, chất lƣợng quả cung cấp cho nhu cầu thị hiếu quả nho ăn tƣơi trên thị trƣờng Hà Nội. Mục đíc và y u cầu đề tà 1. Mục đíc - Đánh giá đặc điểm nông sinh học của giống nho Hạ đen tại điều kiện Gia Lâm, Hà Nội - Xác định đƣợc nồng độ và thời điểm xử lý GA3 đến năng suất và chất lƣợng quả nho Hạ đen.
Y u cầu - Tìm hiểu tài liệu về các giống nho trên thế giới và Việt Nam cũng nhƣ các phƣơng pháp chọn tạo giống. - Đánh giá các đặc điểm sinh trƣởng và phát triển giống nho Hạ đen trong vụ Xuân. - Đánh giá ảnh hƣởng của việc xử lý GA3 đến tỷ lệ đậu quả, năng suất và chất lƣợng quả nho. Ý n ĩa k oa ọc và thực tiễn của đề tài - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xác định ảnh hƣởng của nồng độ GA3 đến năng suất và chất lƣợng của giống nho Hạ Đen từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình trồng cho giống nho nói riêng.
Ổ Q VỀ VẤ ĐỀ Ê CỨ 2. uồn ốc, p ân loạ cây n o 2. Nguồn gốc Cây nho (Vitis vinfera L.) có nguồn gốc ở vùng tiểu Á, nằm giữa và phía Nam vùng giữa biển Đen và biển Caspin, từ loài này tất cả các giống nho đƣợc trồng trọt tạo ra trƣớc khi có sự khám phá ra vùng Bắc Mỹ. Vào khoảng những năm 600 trƣớc công nguyên, cây nho đƣợc di thực tới Hi Lạp, Italia và vùng phía Nam của nƣớc Pháp.
Vào khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên, ngƣời Hi Lạp đã mang nho tới trồng tại Đức, cây nho đã đƣợc đƣa tới vùng tân thế giới cùng với những đoàn thám hiểm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Cây nho đƣợc đƣa đến trồng ở Ấn Độ vào khoảng thời gian năm 1.300 sau công nguyên; vào năm 1958, cây nho đƣợc đƣa đến trồng ở Philippine (Cornel, 1998). Theo Shanmugavelu (1989), cây nho đã có mặt ở Ấn Độ từ thế kỷ XI trƣớc công nguyên, nhƣng rất lâu không đƣợc biết đến, cho đến khi có những ngƣời theo đạo hồi từ Afghanistan đến xâm lƣợc. Cây nho đƣợc du nhập vào Việt Nam năm 1960 và đƣợc trồng tại Trung tâm Nha Hố, nguồn nhập từ các nƣớc Thái Lan, Nam Triều Tiên, Mỹ và Trung Quốc.
Ở Việt Nam, cây nho có nguồn gốc ở các Miền ôn đới khô Âu Á (Armenia - Iran) (Vũ Công Hậu, 2011). - Về các vùng phân bố: 1. Vùng Trung Á và Địa Trung Hải: Chỉ có 1 loài Vitis vinifera. Vùng Bắc Mỹ: Có 29 loài khác nhau.
Vùng Caribe: Chỉ có một loài Vitis indica. - Về các loài khác: 1. Các loài vùng châu Á: Có 11 loài khác nhau. Chi phụ Muscadinia: Có 3 loài là M.
4 Hơn 90% tổng sản lƣợng nho trên thế giới là thuộc loài Vitis vinifera hoặc từ các loài nho Mỹ. Một số loài nho Mỹ đƣợc trồng thu quả là V. Toàn bộ vùng nho châu Âu và các vùng trồng nho quan trọng khác đƣợc sản xuất hoặc từ các giống nho thuần của loài Vitis vinifera hoặc là giống lai từ một giống của loài Vitis vinifera và một loài nho địa phƣơng của Mỹ, đặc biệt là loài V. Theo Coronel (1998), chi Vitis có khoảng 50 loài đƣợc ghi nhận ở những vùng nhiệt đới và ôn đới.
Ba loài có giá trị quan trọng là V.rotundifolia Michx và V.vinifera Linne, trong đó loài V.vinifera có ý nghĩa kinh tế nhất. Theo Chadha và Shikhamany (1999), chi Vitis có khoảng 60 loài khác nhau. Hầu hết các loài này có nguồn gốc từ phía Bắc bán cầu. Có một số loài có nguồn gốc từ châu Á.
Một số giống thuộc 2 loài Vitis cognetias và Vitis thumbergi có nguồn gốc từ châu Á đƣợc trồng ở một số vùng của Nhật Bản. Trong chi phụ Euvitis, loài có giá trị quan trọng nhất là Vitis vinifera Linne; hơn 90 % các giống12 nho trổng đều thuộc loài này. Loài quan trọng tiếp theo là Vitis labrasca Linne. Ngoài ra, một số ít các giống nho trong thuộc các loài nhƣ Vitis aestivalis Michaux, Vitis berlandieri Planchon, Vitis california Bentham hay một số loài nho khác.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng phần lớn các giống nho trồng trên thế giới ngày nay là thuộc loài Vitis vinifera, chi phụ Euvitis hoặc là một giống lai giữa loài Vitis vinifera với một loài nho địa phƣơng của Mỹ mà chủ yếu là loài V. Phân loại Cây nho có tên khoa học là: Vitis vinifera L. Thuộc nhóm: Spermtophyta Ngành: Tracheophyta 5 Ngành phụ: Pteropsida Lớp: Angiosperm Lớp phụ: Dicotyledonease Bộ: Ramnales Họ: Ampelidaceae (hay còn gọi là Vitaceae) Chi: Vitis Cây nho bao gồm 12 chi và khoảng 600 loài đƣợc phân bố rộng rãi ở các nƣớc ôn đới. Trong đó, chi có giá trị kinh tế quan trọng và là chi duy nhất có các giống nho trồng là Vitis.
Chi Vitis đƣợc chia thành 2 chi phụ là Muscadinia và Euvitis. Các loài trong chi phụ Muscadinia có 40 nhiễm sắc thể, trong khi đó các loài trong chi phụ Euvitis chỉ có 28 nhiễm sắc thể. Các loài trong chi phụ Muscadinia rất dễ đƣợc nhận biết thông qua một số đặc điểm nhƣ vỏ cây liên kết rất chặt, không tróc vỏ, tua cuốn không phân nhánh, các đốt thân liên tục, chùm quả nhỏ và quả bị rụng khi chín. Ngƣợc lại, các loài thuộc chi Euvitis thì có đặc điểm tróc vỏ thân, tua cuốn phân nhánh, các đốt trên thân đƣợc phân biệt rõ, chùm quả lớn và quả trên chùm không tự rụng khi chín (Chadha và Shikhamany 1999).
Tình hình sản xuất nho trên thế giớ và tron nƣớc 2. Tình hình sản xuất nho trên thế giới Theo FAO (2019), diện tích nho toàn thế giới năm 2017 khoảng 6,93 triệu ha. Châu Âu là khu vực có diện tích trồng nho lớn nhất thế giới, tuy nhiên sản lƣợng không phải là lớn nhất thế giới. Hiện nay, sản lƣợng nho sản xuất lớn nhất thế giới thuộc về Châu Á là Trung Quốc.
Trong những năm qua, năng suất, diện tích và sản lƣợng nho trên thế giới có nhiều biến động. Tuy nhiên, nho vẫn giữ đƣợc vai trò và vị thế của nó so với các cây trồng khác. Theo FAO (2019), Châu Âu dẫn đầu về diện tích trồng nho đạt 3,44 triệu ha, tuy nhiên năng suất và sản lƣợng lại không phải là 6 lớn nhất, năng suất chỉ đạt 75,46 tạ/ha và sản lƣợng đạt 25,96 triệu tấn. Trong khi châu Á có diện tích trồng nho đứng thứ 2 (sau châu Âu) nhƣng diện tích và sản lƣợng dẫn đầu với năng suất đạt 139,02 tạ/ha và sản lƣợng đạt 27,26 triệu tấn đƣợc thể hiện qua bảng 2.