Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên 7 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP TỈNH 1. Lý luận chung về công chức, công vụ, công chức chuyên môn cấp tỉnh 1. Công chức - Quan niệm, đặc điểm và phân loại 1. Quan niệm công chức Công chức là thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có những điểm khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nƣớc, sự phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống và các yếu tố văn hóa lịch sử của từng giai đoạn lịch sử cụ thể ở mỗi quốc gia.
* Khái niệm công chức của một số quốc gia trên thế giới Trên thế giới, tùy thuộc vào đặc điểm về thể chế chính trị, tổ chức bộ máy, truyền thống. mà quan niệm về công chức nhƣ sau : Nƣớc Đức, công chức là nhân viên làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các xí nghiệp nhà nƣớc, công chức làm việc trong cơ quan chính phủ, nhân viên lao động công, giáo sƣ đại học, giáo viên trung học hay tiểu học… Nƣớc Pháp, công chức là những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nƣớc, những ngƣời tham gia làm các dịch vụ công. Nƣớc Nhật Bản, quan niệm công chức bao gồm cả công chức nhà nƣớc trung ƣơng và công chức địa phƣơng, có nghĩa là cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan chính quyền tự quản địa phƣơng cũng là công chức. 8 Luan van Nhƣ vậy, có thể nhận thấy rằng, đặc điểm chung của công chức ở các quốc gia: Công chức là những ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ chức danh công vụ nhất định và đƣợc trả công từ nguồn ngân sách nhà nƣớc.
* Khái niệm công chức ở Việt Nam Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành và phát triển theo tiến trình lịch sử, mỗi thời kỳ khác nhau có quan niệm khác nhau về công chức. Theo Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì công chức là “những ngƣời công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nƣớc đều là công chức theo quy chế này, trừ những trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Sau đó do tình hình chiến tranh nên trong một thời gian dài, khái niệm công chức ít đƣợc sử dụng mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nƣớc” để chỉ toàn bộ những ngƣời làm công ăn lƣơng nhà nƣớc, không phân biệt công chức và viên chức. Ngày 25/5/1991, Hội đồng Bộ trƣởng ban hành Nghị định số 169/HĐBT quy định chung về khái niệm công chức và phạm vi công chức.
Theo đó, công chức đƣợc hiểu nhƣ sau: “Công chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở của Nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc gọi là công chức”. Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội thông qua ngày 26/02/1998 có quy định: “Công chức Việt Nam là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ, đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên, đƣợc phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, đƣợc xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan, tổ 9 Luan van chức, đơn vị của nhà nƣớc, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”. Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi bổ sung năm 2003 không đƣa ra định nghĩa riêng cho khái niệm cán bộ, công chức, viên chức nhƣng đã thực hiện phân định biên chế hành chính với biên chế sự nghiệp. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ, công chức đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Công chức là công dân Việt Nam trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc đƣợc quy định tại điểm b, điểm c, điểm e khoản 1 điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc, lực lƣợng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội”.
Luật cán bộ công chức năm 2008 tại khoản 2, điều 4 đã quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Nhƣ vậy, theo Luật cán bộ công chức phạm vi công chức đƣợc quy định rất rộng bao gồm công chức trong cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức 10 Luan van chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị của nhà nƣớc, các đơn vị sự nghiệp công, cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân. Vì phạm vi công chức đƣợc quy định rất rộng, chƣa có quy định rõ ràng phân biệt giữa các nhóm công chức: công chức hành chính nhà nƣớc, công chức trong cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội nên việc quản lý sẽ có những chồng chéo và khó khăn. Nhƣ vậy, có thể đƣa ra khái niệm chung nhất về công chức nhƣ sau: Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, làm việc trong cơ quan nhà nƣớc, trong biên chế nhà nƣớc và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Đặc điểm của công chức * Đội ngũ công chức hành chính là chủ thể của nền hành chính nhà nước, là những người thực thi quyền lực công và được đảm bảo những điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để thực thi công vụ Trong hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nƣớc, cán bộ công chức đóng vai trò quan trọng, là mắt xích không thể thiếu trong bất kỳ nền hành chính nhà nƣớc nào, đặc biệt là đội ngũ công chức trong bộ máy hành chính, thực thi pháp luật và thi hành công vụ nhằm phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội. Đây là yếu tố quyết định đảm bảo cho bộ máy quản lý hành chính nhà nƣớc hoạt động có hiệu lực hiệu quả. Công chức là những ngƣời thực thi công vụ, trực tiếp thi hành quyền lực nhà nƣớc, cụ thể hóa những chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc vào thực tế đời sống xã hội. Lao động của công chức khác với các dạng lao động khác trong xã hội.
Sản phẩm lao động của công chức là các văn bản quy phạm pháp luật, quyết định hành chính… để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, thi hành pháp luật và đƣa pháp luật vào đời sống. 11 Luan van Đƣợc Nhà nƣớc trao quyền để thực thi quyền lực của Nhà nƣớc, công chức có trách nhiệm, nghĩa vụ đƣợc quy định trong các văn bản của Nhà nƣớc liên quan đến chức trách nhiệm vụ đƣợc giao. Họ có thể bị từ chức, truy cứu trách nhiệm hoặc phải bồi thƣờng thiệt hại nếu không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, ra quyết định hành chính làm tổn hại lợi ích hợp pháp của tổ chức công dân. Để thực hiện công vụ, công chức đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để tiến hành thực thi công vụ.
Họ đƣợc đảm bảo quyền lợi chính đáng về vật chất và tinh thần nhƣ: hƣởng lƣơng từ ngân sách của nhà nƣớc tƣơng xứng với chức trách và công việc, nhận các loại trợ cấp, phụ cấp, quyền đƣợc nghỉ ngơi, nghiên cứu khoa học, khen thƣởng khi có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ. * Công chức là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao Các cơ quan hành chính nhà nƣớc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng đƣợc tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định để thực thi quyền hành pháp của Nhà nƣớc để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội. Phạm vi hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mang tính phức tạp, vì vậy đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức phải có tính chuyên nghiệp, chính xác. Bởi lẽ các chính sách tham mƣu của đội ngũ công chức chuyên môn nghiệp vụ và quyết định của công chức lãnh đạo quản lý ảnh hƣởng trực tiếp đến cuộc sống, phát triển kinh tế- xã hội của ngƣời dân.
Tính chuyên nghiệp của công chức đƣợc quy định bởi địa vị pháp lý và thể hiện qua hai yếu tố: thời gian, thâm niên công tác và trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp. Thời gian, thâm niên công tác tạo cho công chức sự thành thạo, những kinh nghiệm trong thực thi công vụ, còn trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ tạo cho họ khả năng, mức độ 12 Luan van hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao, qua thời gian công tác trình độ kỹ năng ngày càng đƣợc hoàn thiện.