Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHO LÃNH ĐẠO TRUNG TÂM GDTX - DN CẤP HUYỆN 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Cho đến nay ở nước ta đã có một số công trình nghiên về GDTX. Chúng ta có thể tìm đọc các công trình nghiên cứu về GDTX và phát triển cộng đồng của các tác giả như: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Phạm Tất Dong, Vũ Ngọc Hải, Trần Bá Hoành, Trần Kiểm, Ngô Quang Sơn, Tô Bá Trượng, Thái Thị Xuân Đào v. Đối với GDTX ở tỉnh Bắc Giang đến nay đã có hai luận văn Thạc sĩ QLGD nghiên cứu về ngành học này.
Đề tài của tác giả Đào Duy Thụ viết năm 1998 về “Những biện pháp củng cố Trung tâm GDTX huyện của tỉnh Bắc Giang”. Đề tài của tác giả Trần Kim Ngọc viết năm 2000 về “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo Đại học không chính qui ở Trung tâm GDTX tỉnh Bắc Giang”. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ lãnh đạoTrung tâm GDTX - DN. Đó là lý do để tác giả chọn đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ chuyên ngành QLGD: “Một số biện pháp nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo Trung tâm GDTX - DN cấp huyện ở tỉnh Bắc Giang”.
Lý luận chung về quản lý và năng lực quản lý 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật tác động đến một hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô cho đến tầm vi mô. Có nhiều cách tiếp cận và nhiều khái niệm khác nhau về quản lý: - W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động đã nêu: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [11].
- Một số tác giả nghiên cứu về quản lý hệ thống tổ chức nhà nước lại cho rằng: “Quản lý là quá trình vận hành của chính quyền” [11]. - Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đưa ra khái niệm: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [3]. Tuy có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [32]. Quản lý giáo dục - Quản lý giáo dục là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa cơ sở giáo dục vận hành theo lý thuyết giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh.M Mechiti Zade nhà lý luận Xô Viết về QLGD thì “ QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục cán bộ, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu., nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”.
- Trên quan điểm QLGD và quản lý hệ thống giáo dục là những khái niệm đồng nhất có thể định nghĩa: “QLGD, QLHTGD là tác động có hệ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tận cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các qui luật của QLGD, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em” [13]. Bản chất và các chức năng quản lý giáo dục 1) Bản chất của quản lý: Xét về mặt kinh tế xã hội của quản lý, quản lý là các hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý vì mục tiêu lợi ích của hệ thống, bảo đảm cho hệ thống tồn tại, sống còn, phát triển lâu dài. Mục tiêu của hệ thống do chủ thể quản lý đảm nhiệm, họ là thủ lĩnh của hệ thống và là người lắm quyền lực của hệ thống. Nói cách khác “Bản chất của quản lý tuỳ thuộc vào ý tưởng, phương thức quản lý, nhân cách của các thủ lĩnh của hệ thống”[32].
2) Chức năng của quản lý giáo dục: Cũng như các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội, QLGD có hai chức năng tổng quát: - Chức năng ổn định duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế - xã hội. - Chức năng đổi mới phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế - xã hội. Như vậy, QLGD là hoạt động điều hành các cơ sở giáo dục để giáo dục vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế. Từ hai chức năng tổng quát trên, QLGD phải quán triệt, gắn bó bốn chức năng cụ thể: - Kế hoạch hoá: Đưa mọi hoạt động giáo dục và đào tạo vào công tác kế hoạch với mục tiêu, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể, ấn định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tổ chức: Hình thành và phát triển có tổ chức tương xứng với sứ mệnh, với nhiệm vụ chính trị, với mục tiêu dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. - Chỉ huy: Chức năng này thường mang tính tác nghiệp. Trong quá trình kế hoạch hoá lưu ý sự dân chủ, lấy được ý kiến từ cơ sở, trong chỉ huy điều hành lưu ý sự tập trung, thống nhất điều khiển. - Kiểm tra: Công việc này gắn bó với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều chỉnh mục tiêu.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, chức năng QLGD được cụ thể hoá như sau: “Hoạt động tương tác của các yếu tố trên làm nảy sinh các vấn đề và tình huống có vấn đề (mâu thuẫn, gay cấn, xung đột) trong việc đào tạo để cơ sở giáo dục phát triển đạt tới chất lượng tổng thể và bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của nền kinh tế” [1]. Biện pháp quản lý Khái niệm “biện pháp” theo Viện ngôn ngữ học (Từ điển Tiếng Việt- Trung tâm từ điển - Nhà xuất bản giáo dục - 1994) là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”. Biện pháp quản lý chính là nội dung, cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó của người quản lý về lĩnh vực mà người quản lý chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Trong QLGD thì biện pháp quản lý là tổ hợp các nội dung, cách thức tiến hành của chủ thể hệ quản lý làm cho hệ vận hành, phát triển đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra phù hợp với đường lối, chiến lược và chính sách của nhà nước, phù hợp với qui luật khách quan.
Quá trình giáo dục được xem như là một hệ thống, Do vậy, để thực hiện mục đích quản lý, người làm công tác quản lý phải xây dựng được hệ thống mục tiêu cần đạt được trong công tác quản lý. Khi xác định được mục tiêu, người quản lý phải dựa vào mục đích, mục tiêu giáo dục chung, phải tính trước được các yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến việc thực hiện 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mục tiêu. Đồng thời người quản lý phải xác định được các mục tiêu trước mắt, mục tiêu lâu dài, mục tiêu cơ bản và xây dựng được tiêu chuẩn để đánh giá việc thực hiện mục tiêu. Năng lực, năng lực quản lý 1.Năng lực Theo từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1992 của viện khoa học xã hội Việt Nam thì năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một loại hoạt động nào đó.
Hoặc năng lực là phẩm chất tâm lý, sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Theo quan điểm tâm lý học Macxit thì năng lực là một cấu tạo tâm lý phức tạp, đó là một tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả. Năng lực được phân chia thành năng lực chung và năng lực riêng. Năng lực chung là năng lực cần thiết cho những lĩnh vực hoạt động khác nhau, những thuộc tính về thể lực, trí tuệ (quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ.), là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có hiệu quả.
Năng lực riêng biệt là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất năng lực có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao, chẳng hạn năng lực toán học, năng lực thơ ca… Năng lực chung và riêng có mối quan hệ qua lại, chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Năng lực riêng được phát triển dễ dàng và nhanh chóng hơn trong điều kiện tồn tại năng lực chung. Khi xem xét bản chất của năng lực chúng ta cần lưu ý đến ba dấu hiệu sau: - Năng lực là sự khác biệt về tâm lý cá nhân, nó làm cho người này khác với người kia. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Năng lực là sự khác biệt có liên quan đến hiệu quả của việc thực hiện một số hoạt động nào đó.
- Năng lực không phải được đo bằng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành ở người nào đó, nó chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn. Năng lực không đồng nhất với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhưng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết. Mỗi con người có một khả năng trong một hoạt động nhất định nào đó. Năng lực có thể tách ra làm hai trình độ: tái tạo và sáng tạo.
- Ở trình độ tái tạo, nhân cách chỉ tiến hành hoạt động có hiệu quả khi làm theo mẫu có sẵn. Với trình độ sáng tạo, nhân cách tiến hành hoạt động theo cách thức với hiệu quả cao hơn.