CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ 1. Một số vấn đề lý luận về cán bộ chủ chốt cấp xã Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, chúng ta đã và đang hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình này chúng ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn và thách thức. Trong quá trình đưa sự nghiệp xây dựng CNXH của đất nước tiếp tục phát triển theo con đường mà Đảng và Bác đã chọn thì cần phải tạo tiền đề cho sự nghiệp ấy.
Điều này đòi hỏi phải khắc phục những tồn tại của cơ cấu quan liêu, đồng thời phải giải quyết những vấn đề mới nảy sinh một cách hiệu quả. Muốn làm tốt thì chúng ta cần phải có đội ngũ CBCC mạnh từ trung ương đến cấp cơ sở (cấp xã, phường). Cấp cơ sở có vững thì các cấp trên mới mạnh. Việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã là một việc hết sức cần thiết và quan trọng nhất là việc nâng cao năng lực quản lý của CBCC cấp xã.
Trước tiên chúng ta cùng tìm hiểu một số vấn đề lý luận về CBCC cấp xã. Cấp xã và vai trò của cán bộ chủ chốt cấp xã Cấp xã là là một cấp quản lý nhà nước trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước bốn cấp hiện hành gồm: trung ương – tỉnh – huyện – xã. Cấp xã đóng vai trò quan trọng, là nền tảng của nền hành chính quốc gia, là nơi đáp ứng các yêu cầu cuộc sống của dân và tổ chức hoạt động để phát triển tốt nhất những khả năng sáng tạo, những năng lực làm chủ của nhân dân lao động. Đây còn là cấp mà thực tiễn diễn ra sôi động hàng ngày, nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn đường lối và Nghị quyết của Đảng.
Cấp xã là cấp hành động trực tiếp tổ chức đưa đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là "vấn đề then chốt". Người khẳng định: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [8, tr. Cán bộ có vị trí rất quan trọng là "cầu nối" giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Cán bộ là người đặt ra đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. 5 Đường lối, chính sách, pháp luật có đúng đắn, khoa học phần lớn phụ thuộc nhiều vào cán bộ, có chính sách rồi việc thi hành nó thế nào cũng lại phụ thuộc rất nhiều vào cán bộ. Nếu cán bộ giỏi, có năng lực, tận tâm với công việc thì chính sách được thi hành và đi vào cuộc sống. Ngược lại, nếu không có cán bộ tốt thì các chủ trương, chính sách có hay mấy cũng không thực hiện được.
Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, Đảng nhận định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [4, tr. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và động viên nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường sự đoàn kết trong nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Họ là những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân; lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Đồng thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh với Đảng, Nhà nước.
Cán bộ chủ chốt cấp xã Để nghiên cứu năng lực quản lý của CBCC cấp xã chúng ta phải hiểu được CBCC cấp xã là gì. Từ “cán bộ” được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Dù cách hiểu, cách dùng khác nhau nhưng về cơ bản, từ cán bộ bao hàm nghĩa chính của nó là bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy. Quan niệm một cách chung nhất, cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức [8, tr.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng một khi đã có đường lối cách mạng đúng thì cán bộ là khâu quyết định. Người viết: “Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Cán bộ là những người đem đường lối, chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo lại cho Đảng, cho Chính phủ 6 hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng.
Thực tế là mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Chính phủ đều do cán bộ nghiên cứu đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện. Đường lối của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành hay không đều phụ thuộc vào cán bộ. Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúng nhân dân, mà hạt nhân chủ yếu của nó là lực lượng cán bộ. “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, chính là quan điểm về con người với tính cách vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng.
Đó là biểu hiện cụ thể của quan điểm “lấy dân làm gốc”. Người cho rằng:“cán bộ là tiền vốn của đoàn thể, có vốn mới làm ra lãi, bất cứ chính sách, công tác gì, nếu có cán bộ tốt thì thành công tức là có lãi, không có cán bộ tốt thì hỏng việc tức là lỗ vốn”. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm và chú trọng đến công tác cán bộ, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác cán bộ càng được chú trọng. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật quy định về cán bộ như: Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Văn kiện đại hội Đảng X, đặc biệt là Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 khoá IX Ban Chấp hành Trung ương Đảng "về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn", trong đó nhấn mạnh: Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở [6, tr.
Luật cán bộ, công chức 2008; Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9- 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/11/2011 của Chính phủ về CBCC xã, phường, thị trấn; Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính Phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH ngày 27/5/2010 của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 7 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính Phủ; Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 08/4/2013 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2009/NĐ- CP của Chính Phủ; Quyết định số 03/2004/QĐ-TTG ngày 07-01-2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC xã, phường, thị trấn đến năm 2010; Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16-01-2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với CBCC xã, phường, thị trấn. là cơ sở pháp lý quan trọng để làm tốt công tác CBCC chính quyền cấp xã. Tại khoản 3, điều 4 của Luật Cán bộ, công chức ban hành 2008 nêu rõ: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữu một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Theo quy định tại điều 3, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã: 1.
Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: a. Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; b. Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; c. Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; d.
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tổ quốc; đ. Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e. Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; g. Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam; h.
Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam. Có thể hiểu “cán bộ chủ chốt” là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước 8 cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao.