Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp xã Chương 2. Thực trạng năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp xã thuộc huyện Vĩnh Thạnh,tỉnh Bình Định Chương 3. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo cho cán bộ chủ chốt cấp xã thuộc huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 1 1 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm về cán bộ cấp xã Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm về cán bộ: “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem lại tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ đề đặt chính sách cho đúng [Hồ Chí Minh, 2015]. + Theo Luật Cán bộ, công chức, “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Quốc hội, 2008). Từ khái niệm trên, cán bộ cấp xã có những đặc điểm sau: Cán bộ cấp xã là những người được bầu cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ hoặc chức danh trong hệ thống chính trị tại các xã, phường, thị trấn, chịu trách nhiệm triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ công tác ở những nơi mình công tác.
Khái niệm cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã Trong Tiếng Anh, thuật ngữ “Leader có nghĩa là người đứng đầu, cầm đầu có tầm quan trọng chức vụ cao nhất trong các nhóm xã hội thực hiện vai trò chỉ huy, điều khiển và chịu trách nhiệm cao nhất. 1 Theo tác giả Trần Xuân Sầm (1998) thì: “Cán bộ lãnh đạo chủ chốt, trước hết cũng là người cán bộ lãnh đạo nhưng là người cán bộ lãnh đạo quan trọng nhất, tùy theo vị trí, cương vị ở mỗi cấp và lĩnh vực khác nhau mà họ đảm nhận”. Việc xác định cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải được xem trên hai khía cạnh: Thứ nhất, phải thông qua việc xem xét chức năng nhiệm vụ của từng chức danh cán bộ trong mối quan hệ với nhiệm vụ chính trị của tổ chức, chức danh lãnh đạo đó phải giữ những vị trí, những khâu then chốt. Thứ hai, ở những khâu trọng yếu, người cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải là người chịu trách nhiệm cao nhất, người quyết định cuối cùng trong mọi hoạt động của đơn vị mà họ chịu trách nhiệm.
Mai Đức Ngọc (2008) cho rằng “Vai trò cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc giữ gìn ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay”. Bằng lý luận và thực tiễn tác giả đã chứng minh cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn ổn định chính trị ở nông thôn nước ta. Tác giả đã đi sâu luận giải tính cấp thiết và vai trò cán bộ chủ chốt trong giữ vững ổn định ở nông thôn. Tác giả nhấn mạnh“Ổn định chính trị xã hội ở nông thôn là tiền đề để phát triển xã hội.
Không có sự ổn định chính trị xã hội không thể phát triển”. Đồng thời, tác giả khẳng định cán bộ cấp xã, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt là chủ thể trực tiếp quyết định thực hiện có hiệu quả chức năng của hệ thống chính trị cơ sở, bảo đảm cho đướng lối chính sách của Đảng và Nhà nước được thực hiện một cách sinh động, sáng tạo ở cơ sở. Hoạt động của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã góp phần trực tiếp phát triển kinh tế xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trên cơ sở đó tác giả đã kiến nghị một số giải pháp để nâng cao vai trò cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong giữ vững ổn định chính trị ở 1 nông thôn hiện nay như: Tạo nguồn cán bộ cơ sở, tăng cường giáo dục rèn luyện, phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra giám sát cán bộ, hoàn thiện thể chế, môi trường làmviệc.
Từ sự phân tích trên có thể hiểu khái niệm cán bộ lãnh đạo chủ chốt như sau: Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là những cá nhân có chức năng chỉ huy và điều khiển, là người chịu trách nhiệm cao nhất, nắm giữ những vị trí trọng yếu nhất của tổ chức, hoạt động lãnh đạo của họ không chỉ tác động đến toàn bộ tổ chức thuộc quyền quản lý của mình, mà còn tác động trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Cán bộ cấp xã bao gồm các chức danh (Quốc hội, 2008): a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Quy định số 89-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (2017) về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thì lãnh đạo chủ chốt cấp xã có thể gồm bí thư, phó bí thư cấp ủy, chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND cấp xã. Theo Quy định số 105- QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (2017) về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử thì lãnh đạo chủ chốt ở xã có thể gồm bí thư, phó bí thư, ủy 1 viên ban thường vụ đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND và UBND cấp xã.
Trong đề tài nghiên cứu tác giả xin phân tích thuật ngữ cán bộ chủ chốt cấp xã bao gồm: bí thư, phó bí thư (thường trực) đảng ủy, Chủ tịch và phó chủ tịch HĐND, Chủ tịch và phó chủ tịch UBND. Khái niệm về năng lực lãnh đạo Vấn đề năng lực lãnh đạo đã được đề cập trên thế giới từ những năm 1955, người được coi là đặt nền móng cho lĩnh vực nghiên cứu này là Robert Kantz. Quan điểm của Kantz (1955) lãnh đạo là những người bình thường đã qua rèn luyện, khác với các quan niệm về nhà lãnh đạo lúc bấy giờ (nhà lãnh đạo giỏi là dựa vào các đặc điểm tính cách bẩm sinh). Kể từ đó, các nghiên cứu về năng lực lãnh đạo đã được thực hiện rất nhiều, đặc biệt giai đoạn những năm 1990.
Có thể dẫn chứng một số nghiên cứu điển hình sau: Theo Stodgill (1974), kỹ năng cần thiết cho việc lãnh đạo hiệu quả là kỹ năng tạo lập mối quan hệ, khác với những chuyên môn cụ thể. Chính kỹ năng quan hệ, “hiểu người” sẽ giúp nhà lãnh đạo có cách truyền cảm hứng và tạo động lực cho cấp dưới một cách hiệu quả. Trong học thuyết về năng lực lãnh đạo của John C. Maxwell (2001) đã đưa ra ba học thuyết để trở thành nhà lãnh đạo, trong đó theo thuyết tính cách (Trait Theory) thì: Khi có một vài đặc điểm tính cách cá nhân đặc biệt thì người ta có thể đảm nhận vai trò lãnh đạo một cách tự nhiên.
Chính chuyên gia trong nghiên cứu đặc tính cá nhân Ralph Stogdill đã tiến hành hàng loạt nghiên cứu về lãnh đạo và kết luận: “Nhà lãnh đạo phải có động cơ mạnh mẽ, sự đam mê mãnh liệt và lòng kiên nhẫn trong việc đạt được mục đích đề ra, khả năng dám mạo hiểm và tính sáng tạo độc đáo trong cách giải quyết vấn đề. Lãnh đạo phải có khả năng khởi xướng các hoạt động mới mẻ với sự tự tin, sự sẵn lòng chấp nhận hậu quả cho các quyết định và hành động của mình, có khả năng đối phó với căng thẳng, sẵn lòng tha thứ”. 1 Như vậy, các nghiên cứu này mặc dù chưa đề cập một cách toàn diện năng lực lãnh đạo song đã đưa ra được một số yêu cầu cần có của một nhà lãnh đạo. Là cơ sở cho các nghiên cứu về năng lực lãnh đạo một cách toàn diện và trực tiếp về lãnh đạo sau này.
Chẳng hạn như nghiên cứu Glasgow City Council Leadership Competency Framework, phần “Khung năng lực lãnh đạo” đã miêu tả khá chi tiết và định nghĩa khá cơ bản về năng lực lãnh đạo và các mức yêu cầu có thể đạt được đối với mỗi tiêu chí năng lực. Các tiêu chí năng lực được thể hiện trong “Khung năng lực lãnh đạo”. Những đóng góp đầu tiên của tác phẩm là đề xuất cách xây dựng khung năng lực, khái niệm mà ngày nay được sử dụng khá phổ biến. Hay theo Day và cộng sự (2009), năng lực lãnh đạo là các kiến thức, kỹ năng và thái độ liên quan đến khả năng tham gia lãnh đạo.
Bên cạnh cách tiếp cận năng lực theo các thành phần kiến thức, kỹ năng, thái độ, một số nghiên cứu tiếp cận năng lực lãnh đạo theo góc độ khác, bao gồm năng lực lãnh đạo bản thân, năng lực lãnh đạo đội ngũ và năng lực lãnh đạo tổ chức. Cụ thể như sau: Theo Boyatzis (1993) năng lực lãnh đạo bản thân thể hiện ở khả năng chủ đọ ng, tự tin, kiềm chế/ tự kiểm soát, sức chịu đựng, khả năng thích ứng của lãnh đạo; năng lực lãnh đạo đội ngũ thể hiện ở việc quan tâm đến những mối quan hệ, đề cao hình thức phản hồi, áp dụng năng lực xã hội hóa, năng lực lãnh đạo nhóm; năng lực lãnh đạo tổ chức thể hiện thông qua khả năng định hu ớng hiệu quả, lu ờng tru ớc rủi ro, luôn tu duy hóa, nhận thức các yếu tố khách quan. Theo Munford và cộng sự (2000) năng lực lãnh đạo bản thân là kỹ năng giải quyết vấn đề, năng lực lãnh đạo đội ngũ thể hiện qua kỹ năng xã hội và năng lực lãnh đạo tổ chức thể hiện qua kỹ năng nhận thức các vấn đề liên quan về xã hội.