Tổng quan nghiên cứu

Thủy sản luôn giữ vị trí là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam trên thị trường quốc tế với mạng lưới xuất khẩu mở rộng tới hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong cơ cấu toàn ngành, sản phẩm tôm tuy chỉ chiếm khoảng 20% về tổng khối lượng xuất khẩu nhưng luôn đóng góp tỷ trọng vượt trội, chiếm tới 40% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản và đóng góp xấp xỉ 2% GDP của cả nước mỗi năm. Mặc dù sở hữu nhiều lợi thế tự nhiên vượt trội với hơn 3.260 km đường bờ biển và hơn 1 triệu km2 diện tích vùng đặc quyền kinh tế, năng lực cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn lớn khi đặt lên bàn cân so sánh với các đối thủ trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan – quốc gia từng giữ vững vị thế xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới với hệ thống công nghệ nuôi trồng và chuỗi chế biến hiện đại.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh ngành hàng tôm, phân tích sâu thực trạng cạnh tranh giữa Việt Nam và Thái Lan dựa trên các chỉ tiêu định lượng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm nâng cao vị thế và thị phần cho tôm Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung đánh giá chuỗi số liệu thực chứng giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2013, phân tích sâu giai đoạn 2010 đến 2013 và hoạch định các định hướng chiến lược đến năm 2020. Không gian nghiên cứu bao quát toàn diện ngành hàng tôm của hai quốc gia Việt Nam và Thái Lan trong mối tương quan tại các thị trường tiêu thụ trọng điểm toàn cầu gồm Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi vạch ra lộ trình cụ thể giúp ngành tôm Việt Nam hướng tới mục tiêu chủ động 100% con giống sạch bệnh, hạ giá thành nuôi trồng, gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu từ mức 35% lên trên 50%, củng cố năng lực cung ứng để đạt kim ngạch xuất khẩu tôm đông lạnh 330 nghìn tấn vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter và Lý thuyết Lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế tân cổ điển. Mô hình nghiên cứu vận dụng cấu trúc Kim cương của Michael Porter nhằm phân tích 4 nhóm yếu tố nền tảng tác động đến sức cạnh tranh ngành hàng: điều kiện các yếu tố sản xuất (tự nhiên, nguồn giống, thức ăn, nhân lực), điều kiện nhu cầu thị trường quốc tế, các ngành công nghiệp phụ trợ (cơ khí điện lạnh, sản xuất thức ăn thủy sản) và chiến lược cấu trúc doanh nghiệp cùng bối cảnh cạnh tranh trực tiếp với Thái Lan.

Bên cạnh khung lý thuyết tổng quát, tác giả xác lập hệ thống 5 khái niệm và tiêu chí cốt lõi để lượng hóa năng lực cạnh tranh của sản phẩm tôm xuất khẩu ở cấp độ quốc gia:

  • Thị phần xuất khẩu: Xác định tỷ trọng kim ngạch và sản lượng tôm của quốc gia chiếm lĩnh trên tổng dung lượng thị trường thế giới và tại các thị trường trọng điểm.
  • Cơ cấu chủng loại sản phẩm: Đánh giá tỷ trọng giữa tôm sú truyền thống và tôm thẻ chân trắng, mức độ thích ứng với thị hiếu tiêu dùng theo từng phân khúc thị trường.
  • Năng lực chất lượng và an toàn thực phẩm: Mức độ đáp ứng các rào cản kỹ thuật khắt khe như HACCP, VietGAP, GlobalGAP và kiểm soát dư lượng kháng sinh, hóa chất.
  • Chi phí sản xuất và giá cả xuất khẩu: Cấu thành chi phí từ con giống, thức ăn, tỷ lệ nuôi thành công và mức giá xuất khẩu bình quân cạnh tranh.
  • Hệ thống kênh phân phối và giá trị thương hiệu: Khả năng tiếp cận trực tiếp các hệ thống bán lẻ lớn toàn cầu và mức độ nhận diện thương hiệu sản phẩm quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa chuỗi thời gian từ năm 2007 đến năm 2013. Nguồn dữ liệu được thu thập chính thống từ hơn 10 cơ quan chuyên trách uy tín bao gồm: Tổng cục Thủy sản, Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội Thực phẩm Đông lạnh Thái Lan (TFFA), Tổng cục Thống kê Thái Lan, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) và Liên minh Nuôi trồng Thủy sản Toàn cầu (GAA). Toàn bộ cỡ mẫu dữ liệu bao quát 636 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu quy mô công nghiệp tại Việt Nam và 1.226 doanh nghiệp công nghiệp tương ứng tại Thái Lan.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thứ cấp toàn diện kết hợp mẫu điển hình, tập trung vào các vùng nuôi và các doanh nghiệp chế biến thủy sản chủ lực tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam đối sánh trực tiếp với các vùng nuôi trọng điểm của Thái Lan như Chantaburi, Samroijod hay Pattani.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu đa biến và phân tích chuỗi giá trị là nhằm lượng hóa chính xác khoảng cách năng lực cạnh tranh giữa hai quốc gia qua từng năm. Cách tiếp cận này cho phép bóc tách cụ thể các yếu tố vi mô và vĩ mô cấu thành nên giá bán và chất lượng sản phẩm, từ chi phí con giống, nguyên liệu thức ăn cho đến rào cản phi thuế quan tại các thị trường nhập khẩu lớn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng đã chỉ ra 3 phát hiện cốt lõi về cục diện cạnh tranh ngành tôm giữa Việt Nam và Thái Lan:

Thứ nhất, có sự đảo chiều bước ngoặt về thị phần và sản lượng xuất khẩu vào năm 2013 do tác động của dịch bệnh. Trong giai đoạn 2010 đến 2012, Thái Lan luôn giữ vững vị trí dẫn đầu toàn cầu với thị phần xuất khẩu chiếm từ 21,2% đến 27,9% (đỉnh điểm năm 2010 đạt 447,9 nghìn tấn), trong khi Việt Nam chỉ chiếm 12,3% đến 15,1% thị phần thế giới. Tuy nhiên, sang năm 2013, dịch bệnh Hội chứng tôm chết sớm (EMS) bùng phát dữ dội khiến sản lượng tôm xuất khẩu của Thái Lan sụt giảm nghiêm trọng tới 36,8%, chỉ còn 227,3 nghìn tấn (chiếm 12,3% thị phần). Ngược lại, nhờ kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn, xuất khẩu tôm Việt Nam đạt 248,8 nghìn tấn (chiếm 14,1% thị phần thế giới), lần đầu tiên vượt qua Thái Lan cả về sản lượng lẫn kim ngạch xuất khẩu.

Thứ hai, cơ cấu công nghệ và tỷ trọng chế biến sâu của Việt Nam còn khoảng cách rất xa so với Thái Lan. Năm 2013, các sản phẩm tôm chế biến giá trị gia tăng cao và tôm đóng hộp của Thái Lan chiếm tới 56,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này, tỷ trọng tôm đông lạnh sơ chế giảm xuống chỉ còn 43,9%. Trái lại, cơ cấu sản phẩm của Việt Nam còn rất thô sơ khi tôm nguyên con đông lạnh chiếm tới 65%, trong khi các sản phẩm tinh chế có hàm lượng công nghệ cao chỉ chiếm khoảng 35%.

Thứ ba, sự vượt trội của Thái Lan về hạ tầng công nghiệp, tỷ lệ nuôi thành công và lợi thế chi phí sản xuất. Thái Lan sở hữu 1.226 doanh nghiệp chế biến đạt chuẩn công nghiệp, gấp gần 2 lần con số 636 doanh nghiệp của Việt Nam. Hệ thống ao nuôi khép kín tại Thái Lan chiếm trên 95% diện tích, mang lại tỷ lệ nuôi thành công lên tới 70% và năng suất bình quân 10 tấn/ha. Tại Việt Nam, tỷ lệ nuôi thành công chỉ đạt mức thấp từ 30% đến 40%. Đồng thời, do 65% đến 70% thị phần thức ăn thủy sản tại Việt Nam bị chi phối bởi các tập đoàn nước ngoài với giá thành cao hơn từ 15% đến 20% so với khu vực, khiến tổng chi phí sản xuất tôm nguyên liệu của Việt Nam bị đội lên 15% đến 25%, dẫn đến giá tôm xuất khẩu trung bình của Việt Nam luôn đắt hơn Thái Lan từ 1 đến 2 USD/kg.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích dữ liệu chuyên sâu, bức tranh cạnh tranh được mô tả sinh động qua hệ thống biểu đồ cột kép so sánh sản lượng - kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2007 - 2013 và bảng ma trận SWOT đối sánh giữa hai nước. Dữ liệu phản ánh rõ việc Việt Nam vượt qua Thái Lan năm 2013 mang tính thời điểm nhiều hơn là một lợi thế cạnh tranh bền vững từ nội lực. Sự sụt giảm của Thái Lan mở ra thời cơ ngắn hạn để Việt Nam chiếm lĩnh thị phần, nhưng sự tụt hậu về công nghệ chế biến sâu khiến giá trị gia tăng thu về chưa tương xứng.

Hơn nữa, tôm xuất khẩu của Việt Nam còn đối mặt với rào cản kỹ thuật phi thuế quan rất lớn, tiêu biểu là quy định kiểm soát nghiêm ngặt dư lượng chất Ethoxyquin tại hai thị trường khó tính Nhật Bản và Hàn Quốc. Trong khi Thái Lan đã xây dựng được hơn 30 hiệp hội nông dân liên kết chặt chẽ với các viện nghiên cứu để chuyển giao công nghệ sinh học và truy xuất nguồn gốc minh bạch, thì phần lớn người nuôi tôm Việt Nam vẫn hoạt động nhỏ lẻ, tự phát. Điều này làm gia tăng rủi ro dịch bệnh, làm giảm uy tín thương hiệu tôm Việt Nam và khiến nhiều lô hàng phải bán dưới nhãn mác trung gian quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp chiến lược trọng tâm được đề xuất nhằm nâng cao toàn diện sức cạnh tranh của tôm xuất khẩu Việt Nam:

Thứ nhất, chủ động hoàn toàn nguồn tôm giống chất lượng cao và sạch bệnh. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp cùng các Viện nghiên cứu thủy sản đẩy mạnh công tác gia hóa, chọn giống tôm bố mẹ thích nghi tốt với điều kiện an toàn sinh học, nhân rộng mô hình tôm giống F1-V3-VN. Mục tiêu nâng công suất cung ứng từ 300 triệu con giống hiện tại lên mức đáp ứng 100% nhu cầu con giống sạch bệnh nội địa vào giai đoạn 2015 - 2020, chấm dứt tình trạng nhập khẩu tôm bố mẹ trôi nổi kém chất lượng.

Thứ hai, tái cấu trúc mô hình nuôi trồng theo chuỗi giá trị và kiểm soát chi phí đầu vào. Chính quyền các địa phương vùng ven biển đẩy mạnh chính sách dồn điền đổi thửa, hình thành các vùng nuôi tôm công nghiệp tập trung đạt tiêu chuẩn VietGAP và GlobalGAP. Hiệp hội VASEP liên kết cùng các ngân hàng thương mại cung cấp gói tín dụng ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa tự sản xuất thức ăn thủy sản nhằm giảm giá thành đầu vào từ 10% đến 15%, nâng tỷ lệ nuôi thành công từ mức 35% hiện nay lên trên 60% trong giai đoạn 2015 - 2018.

Thứ ba, nâng cao năng lực công nghệ chế biến sâu và hoàn thiện hạ tầng cấp đông. Các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản cần đầu tư hiện đại hóa dây chuyền sản xuất tự động, chuyển dịch mạnh cơ cấu mặt hàng sang sản phẩm ăn liền, sản phẩm tôm bao bột và tôm đóng hộp. Phấn đấu nâng tỷ trọng hàng chế biến giá trị gia tăng từ 35% lên trên 55% tổng kim ngạch xuất khẩu, đưa sản lượng tôm đông lạnh cao cấp đạt 330 nghìn tấn vào năm 2020 theo đúng quy hoạch ngành.

Thứ tư, đẩy mạnh xúc tiến thương mại quốc tế và phát triển thương hiệu tôm quốc gia. Bộ Công Thương, Cục NAFIQAD và VASEP tăng cường quản lý nghiêm ngặt quy chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, loại bỏ triệt để rào cản Ethoxyquin và dư lượng kháng sinh. Đồng thời, chuyển dịch phương thức bán hàng từ xuất khẩu qua trung gian sang ký kết hợp đồng cung ứng trực tiếp với các chuỗi siêu thị và đại siêu thị tại Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản trong giai đoạn 2015 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật cao đối với 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng cục Thủy sản, Sở Nông nghiệp các tỉnh ven biển): Sử dụng công trình làm cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược quy hoạch vùng nuôi tôm tập trung, hoàn thiện khung pháp lý về quản lý dịch bệnh, kiểm soát thị trường thức ăn thủy sản và ban hành các gói hỗ trợ tín dụng phát triển nông nghiệp công nghệ cao.
  • Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản: Tham khảo dữ liệu so sánh chi tiết để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu so với đối thủ Thái Lan, từ đó hoạch định chiến lược đầu tư công nghệ chế biến sâu, tự chủ chuỗi cung ứng thức ăn và xây dựng thương hiệu riêng khi thâm nhập các thị trường khó tính.
  • Hiệp hội ngành nghề và hệ thống khuyến ngư (VASEP, các hợp tác xã nuôi tôm địa phương): Ứng dụng mô hình liên kết chuỗi giá trị và kinh nghiệm vận hành hiệp hội nông dân của Thái Lan để tổ chức các khóa tập huấn kỹ thuật, chia sẻ thông tin thị trường và hỗ trợ hội viên vượt qua các rào cản kỹ thuật quốc tế.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại và Quản trị chuỗi cung ứng: Sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo giá trị với phương pháp luận nghiên cứu đa biến chuẩn mực, hệ thống số liệu chuỗi thời gian đáng tin cậy và khung phân tích cạnh tranh ngành hàng toàn diện.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính nào giúp xuất khẩu tôm Việt Nam vượt qua Thái Lan vào năm 2013?

Năm 2013, ngành tôm Thái Lan chịu thiệt hại hơn 1,54 tỷ USD (khoảng 50 tỷ baht) do dịch bệnh Hội chứng tôm chết sớm (EMS), khiến sản lượng xuất khẩu của nước này giảm mạnh 36,8% xuống 227,3 nghìn tấn. Nhờ kiểm soát dịch bệnh tốt hơn, Việt Nam đã duy trì sản lượng xuất khẩu đạt 248,8 nghìn tấn (chiếm 14,1% thị phần thế giới) và vươn lên vị trí thứ ba toàn cầu.

Vì sao giá thành sản xuất và giá tôm xuất khẩu của Việt Nam cao hơn Thái Lan từ 1 đến 2 USD/kg?

Tỷ lệ nuôi tôm thành công tại Việt Nam chỉ đạt từ 30% đến 40%, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ 70% của Thái Lan. Thêm vào đó, chi phí thức ăn chiếm gần 80% giá thành nhưng lại bị phụ thuộc tới 65% đến 70% thị phần vào các doanh nghiệp ngoại, đẩy chi phí đầu vào tại Việt Nam tăng thêm 15% đến 25%.

Khác biệt lớn nhất trong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu giữa hai quốc gia là gì?

Thái Lan tập trung mạnh vào các dòng sản phẩm tinh chế và đóng hộp với giá trị gia tăng cao, chiếm tới 56,1% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2013. Trong khi đó, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu tôm nguyên con đông lạnh sơ chế (chiếm 65%), còn các mặt hàng chế biến sâu chỉ chiếm 35%, làm giảm biên độ lợi nhuận toàn ngành.

Rào cản kỹ thuật phi thuế quan nào đang gây khó khăn lớn nhất cho tôm Việt Nam?

Rào cản lớn nhất là quy định kiểm soát dư lượng kháng sinh và hoạt chất chống oxy hóa Ethoxyquin từ các thị trường nghiêm ngặt như Nhật Bản và Hàn Quốc. Để vượt qua, các cơ sở nuôi trồng và nhà máy chế biến bắt buộc phải áp dụng quy trình kiểm định khép kín từ con giống, nguồn nước đến đóng gói theo chuẩn VietGAP và HACCP.

Ngành tôm Việt Nam đặt ra những chỉ tiêu phát triển trọng tâm nào đến năm 2020?

Mục tiêu chiến lược đến năm 2020 là chủ động sản xuất 100% nhu cầu con giống sạch bệnh nội địa, đạt sản lượng tôm đông lạnh chất lượng cao 330 nghìn tấn (chiếm 32,3% kim ngạch xuất khẩu), đồng thời đẩy mạnh kênh phân phối trực tiếp vào hệ thống siêu thị lớn tại 3 thị trường chủ lực là Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận và phương pháp luận đánh giá năng lực cạnh tranh ngành hàng tôm xuất khẩu ở 3 cấp độ: quốc gia, ngành doanh nghiệp và sản phẩm.
  • Lượng hóa thực chứng khoảng cách năng lực cạnh tranh giữa Việt Nam và Thái Lan giai đoạn 2007 - 2013, chỉ rõ năm 2013 Việt Nam vươn lên chiếm 14,1% thị phần thế giới (248,8 nghìn tấn) nhưng còn yếu thế về công nghệ chế biến sâu và chi phí nuôi trồng.
  • Xác lập 4 trụ cột giải pháp đồng bộ: tự chủ 100% con giống sạch bệnh, khép kín chuỗi giá trị thức ăn nhằm giảm 10% đến 15% giá thành, nâng tỷ trọng chế biến sâu lên trên 55% và xây dựng thương hiệu quốc gia.
  • Hoạch định mốc lộ trình triển khai rõ ràng từ năm 2015 đến năm 2020 nhằm hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu 330 nghìn tấn tôm đông lạnh tiêu chuẩn quốc tế.
  • Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần khẩn trương phối hợp hành động, chuyển đổi tư duy từ cạnh tranh bằng sản lượng thô sang cạnh tranh bằng chuỗi giá trị chất lượng cao để khẳng định vị thế bền vững của tôm Việt Nam trên trường quốc tế.