Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lĩnh vực thư viện. Chương 3: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty TNHH Nam Hoàng giai đoạn 2013-2017. Chương 4: Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty TNHH Nam Hoàng đến năm 2025.
8 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP LĨNH VỰC THƯ VIỆN 2.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp lĩnh vực thư viện 2.1 Vài nét về doanh nghiệp lĩnh vực thư viện Doanh nghiệp lĩnh vực thư viện là doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trong lĩnh vực thông tin, tư liệu và thư viện Doanh nghiệp lĩnh vực thư viện có thể cung cấp một hoặc tất cả những sản phẩm dành cho thư viện như: tài liệu in, tài liệu điện tử, cơ sở dữ liệu điện tử, phần mềm quản lý thư viện, thiết bị an ninh và tự động hóa lưu thông thư viện, thiết bị số hóa tài liệu,…. Đối tượng khách hàng chủ yếu của các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện là cho các Thư viện, Trung tâm Thông tin, Trung tâm lưu trữ. Nhà cung cấp Nhà cung cấp Trong nước Nước ngoài Doanh nghiệp lĩnh vực thư viện - Giao dịch khách hàng, thực hiện đơn hàng - Lắp đặt, đào tạo, hướng dẫn sử dụng, bảo hành, bảo trì - Tư vấn giải pháp - Marketing giới thiệu sản phẩm Doanh nghiệp thương mại khác Khách hàng cuối cùng - Thư viện, Trung tâm Thông tin - Viện nghiên cứu - Trung tâm lưu trữ - Khoa, Viện các Trường Đại học, Cao đẳng - Khách hàng khác Sơ đồ 2.1: Sơ đồ chuỗi giá trị sản phẩm lĩnh vực thư viện Nguồn: Tác giả tổng hợp 9 2.1 Vai trò của doanh nghiệp lĩnh vực thư viện Thư viện ra đời với sứ mệnh gắn liền với tri thức. Thư viện luôn đồng hành cùng con người với sự tiến hóa của nhận thức, mở mang tầm nhìn, phát triển của khoa học, bảo tồn và phát huy văn hóa.
Đối với xã hội học tập ngày nay, tầm quan trọng của thư viện chưa hề bị giảm đi. Với sự trỗi dậy mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, thư viện vẫn không hề mất đi những giá trị nhân văn của mình, thích ứng với sự phát triển để đưa đến những sản phẩm dịch vụ tốt nhất cho bạn đọc. Chính vì những nhu cầu cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt nhất cho các thư viện mà các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện ra đời. Doanh nghiệp lĩnh vực thư viện đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thư viện, cụ thể: Thứ nhất, các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện đóng vai trò là cầu nối giữa nhà cung cấp, nhà sản xuất với các thư viện trên cả nước.
Thứ hai, các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện đóng vai trò cập nhật, đem đến những công nghệ tiên tiến nhất của lĩnh vực thư viện trên cả nước và trên toàn thế giới đến các thư viện. Giúp các thư viện trong nước có cơ hội tiếp cận, đón đầu những sản phẩm mới nhất mà các thư viện lớn trên thế giới đang sử dụng. Thứ ba, các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện giúp thúc đẩy sự phát triển của các ngành liên quan như: ngành xuất bản, ngành giáo dục, ngành công nghệ thông tin,… Thứ tư, sự phát triển của các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện góp phần vào sự phát triển của toàn nền kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của xã hội.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lĩnh vực thư viện Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lĩnh vực thư viện mang những nét chung của doanh nghiệp thương mại đồng thời cũng mang những đặc điểm riêng của lĩnh vực thư viện. Đặc điểm chung của các doanh nghiệp thương mại Hầu hết các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện là các doanh nghiệp thương mại.
Do vậy các doanh nghiệp này mang những đặc điểm chung của doanh nghiệp thương mại: 10 - Sản phẩm của các doanh nghiệp thương mại là các sản phẩm hàng hoá hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của các doanh nghiệp thương mại không phải là tạo ra giá trị sử dụng và giá trị mới mà là thực hiện giá trị của hàng hoá, đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng cuói cùng. Đây là điểm rất khác biệt lớn nhất giữa doanh nghiệp thương mại so với các doanh nghiệp khác. - Các doanh nghiệp thương mại không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa.
Nhiệm vụ của các doanh nghiệp không phải là tạo ra giá trị sử dụng và giá trị mới mà là thực hiện giá trị của hàng hoá, đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Khi xảy ra biến động trên thị trường, thị trường sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp thương mại sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên. - Sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp thương mạihướng tới khách hàng nên việc phân công chuyên môn hoá trong nội bộ từng doanh nghiệp cũng như giữa các doanh nghiệp thương mại bị hạn chế hơn nhiều so với các doanh nghiệp sản xuất. Các sản phẩm, dịch vụ khá đa dạng với các đặc điểm và vòng đời khác nhau.
- Các doanh nghiệp chịu tác động của địa điểm tiêu thụ. Khác với các doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện phải dễ dàng tiếp cận, đặt tại khu vực trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị. Đặc điểm riêng của các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện Bên cạnh những đặc điểm chung của một doanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện còn có những đặc điểm, tính chất hoạt động riêng: - Về đối tượng khách hàng của các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện là các Thư viện, Trung tâm Thông tin, Trung tâm lưu trữ. Trong đó đối tượng chủ yếu là các Thư viện, Trung tâm Thông tin thuộc các trường Đại học, Cao đẳng trên cả nước, Các Trung tâm thông tin thuộc các Viện nghiên cứu.
Đây là đối tượng khách hàng khá là hẹp. - Về tính chất sản phẩm: các sản phẩm lĩnh vực thư viện như phần mềm quản lý thư viện, hệ thống thiết bị an ninh và tự động hóa thư viện, hệ thống số hóa chuyên dụng mang tính đặc thù của ngành, không được bán phổ thông trên thị trường. - Về chuỗi giá trị hàng hóa lĩnh vực thư viện: Với hàng hóa là sách ngoại văn, thiết bị, phần mềm trong lĩnh vực thư viện chủ yếu được các doanh nghiệp 11 nhập khẩu về và phân phối tại thị trường Việt Nam. Các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là đại diện của hãng sản xuất, nhà xuất bản để tiến hành quảng bá, giới thiệu, thực hiện các giao dịch với khách hàng.
Các doanh nghiệp cũng tiến hành các công việc liên quan đến bảo hành, bảo trì sản phẩm. Đối với các hàng hóa được cung cấp trong nước như sách tiếng Việt, các thiết bị công nghệ thông tin, nội thất,… được cung cấp bởi các nhà cung cấp trong nước. Đơn vị cung cấp sẽ chịu trách nhiệm bảo hành, bào trì sản phẩm.2 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lĩnh vực thư viện 2.1 Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một quy luật xuất hiện trong một nền kinh tế thị trường. Nhờ có cạnh tranh mà một nền kinh tế mới có động lực để phát triển.
Cạnh tranh nói chung hay cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia. Xét từ góc độ vĩ mô với tổng thể nền kinh tế, cạnh tranh có thể được hiểu là sự cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia vào thị trường nhằm giành lấy lợi ích kinh tế. Trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 tại diễn đàn Liên hợp quốc đã định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổn sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian.
Xét từ góc độ vi mô với doanh nghiệp theo hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus (2011) trong cuốn kinh tế học: Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho rằng cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition). Bên cạnh đó, Theo K. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2011, tr224-310).
12 Dựa vào những khái niệm đã được sử dụng ở trên về cạnh tranh, theo quan điểm của tác giả, cạnh tranh trong các doanh nghiệp lĩnh vực thư viện là việc giành được thị phần lớn hơn và lợi nhuận nhiều hơn trên thị trường dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh * Xét trên góc độ năng lực cạnh tranh của một quốc gia, một địa phương Năng lực cạnh tranh là khả năng dành chiến thắng trong sự ganh đua giữa các chủ thể trong một môi trường và khi cùng quan tâm đến mội đối tượng. Xét về phương diện kinh tế, năng lực cạnh tranh có thể được xem xét dưới dạng năng lực cạnh tranh theo lãnh thổ như cấp quốc gia, cấp tỉnh, năng lực cạnh tranh theo ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh sản phẩm. Theo tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất tạo ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, ngành, địa phương, quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” (OECD, 1993).