phần mở đầu và kết luận, luận văn này đƣợc chia thành 4 chƣơng: 4 z Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chè. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển và khả năng cạnh tranh của ngành chè Yên Bái. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chè tỉnh Yên Bái.
5 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CHÈ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu điển hình trong nước Tại các địa phƣơng có ngành chè phát triển, các công trình nghiên cứu về chè thì rất nhiều, nhƣng để nghiên cứu cụ thể từ khía cạnh năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm chè, doanh nghiệp chè lại không có nhiều, và một sản phẩm nghiên cứu chuyên về nâng cao năng lực cạnh tranh của một ngành chè địa phƣơng là gần nhƣ chƣa có (theo chủ quan nghiên cứu của tác giả). Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của một sản phẩm, một doanh nghiệp cụ thể đòi hỏi sự tiếp cận khác với nghiên cứu về phát triển ngành chè nói chung, mặc dù về cơ bản đều hƣớng tới mục đích thúc đẩy ngành chè, các sản phẩm hay doanh nghiệp sản xuất chè phát triển.
Trong nhóm 5 địa phƣơng có ngành chè phát triển nhất cả nƣớc, Thái Nguyên là tỉnh có nhiều đề tài nghiên cứu về năng lực cạnh tranh chè nhất. Một phần của kết quả đó do thƣơng hiệu chè xanh Thái Nguyên nổi tiếng nhất cả nƣớc, công tác đầu tƣ, quy hoạch có bài bản của chính quyền tỉnh đã đƣa chè thành sản phẩm gắn liền với danh xƣng địa phƣơng, đã đƣợc định hình rất rõ ràng trong nhận thức ngƣời tiêu dùng. Các công trình nghiên cứu đã công bố thƣờng tập chung vào nâng cao năng lực cạnh tranh cho một sản phẩm chè nhất định (chè xanh đặc sản, chè đen.) hoặc một vùng chè, một doanh nghiệp cụ thể. Điều đó có ƣu điểm với đối tƣợng nghiên cứu hẹp, công trình sẽ có đƣợc sự đào sâu cụ thể những vấn đề sát thực.
Tuy nhiên, nhƣợc điểm của nó là vì không có tính bao quát chung, nhìn nhận theo nhiều góc độ, mà ở đây quan trọng nhất là các chính sách, chƣơng trình, định hƣớng phát triển của tỉnh. Nói cách khác là không có sự đồng bộ với sự phát triển chung của cả ngành chè địa phƣơng. Những công trình nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm chè, các doanh nghiệp chè đƣợc xây dựng đều có tính thực tế và tính kế thừa 6 z cao. Là những công trình thực sự mang lại nhiều lợi ích thiết thực, ứng dụng tốt trong lý luận cũng nhƣ thực tiễn.
Ở đây, các tác giả căn cứ trên tình hình thực tế của địa phƣơng có ngành chè rất phát triển, với những chính sách, định hƣớng, phƣơng pháp thực hiện đã tƣơng đối hiệu quả và đƣợc nghiên cứu nhiều. Thế nên, một giải pháp mới đƣợc đƣa ra sẽ là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu hết sức công phu và tâm huyết của những ngƣời thực sự có tâm với cây chè. Những công trình nghiên cứu đi trƣớc đã đƣa ra thực trạng đối tƣợng đƣợc nghiên cứu tại thời điểm thực hiện, đồng thời đã có những kiến nghị, giải pháp cụ thể cho từng đối tƣợng nghiên cứu. Ngành chè các địa phƣơng có rất nhiều điểm tƣơng đồng trong quá trình hình thành và phát triển, do đó những giải pháp đƣợc đƣa ra đều có lợi đối với sự phát triển chung của ngành chè, với từng địa phƣơng trong từng giai đoạn cụ thể.
Và đó là những căn cứ rất hữu ích, có tính kế thừa đối với các công trình nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè về sau. Tình hình nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè Yên Bái Đối với việc nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chè Yên Bái đến thời điểm thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả chƣa tìm thấy, chƣa nghe đến một công trình nào nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cho đối tƣợng có liên quan tới chè chứ chƣa nói đến cả ngành chè của tỉnh. Đây là một tính mới, nhƣng đồng thời cùng là một điểm rất khó khăn đối với việc thực hiện nghiên cứu này. Là ngƣời đầu tiên thực hiện đề tài về nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chè Yên Bái, tất cả những công việc thực hiện đều rất hạn chế căn cứ thực tiễn để kế thừa, điều này chắc chắn sẽ dẫn đến những thiếu sót trong kết quả nghiên cứu.
Nói riêng đến những nghiên cứu về chè tỉnh Yên Bái thì chỉ dừng lại ở những báo cáo thực tập tốt nghiệp, nghiên cứu để phát triển chè một huyện cụ thể. Tác giả thực hiện nghiên cứu gần đây nhất cũng đã đƣợc 3 năm, đây là khoảng thời gian khá dài để có thể áp dụng những kết quả nghiên cứu theo thực tế hiện tại. 7 z Nhìn chung, đã có không ít các công trình nghiên cứu đề cập đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các đối tƣợng có liên quan đến ngành chè, đóng góp lớn vào sự phát triển chung của ngành chè Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu đó có nhiều giá trị làm cơ sở cho việc hoàn thiện giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chè.
Tuy nhiên, các công trình khoa học đã thực hiện từ trƣớc tới nay chƣa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chè của tỉnh Yên Bái. Tác giả thực hiện luận văn này với mong muốn sẽ đóng góp một phần công sức bé nhỏ để dần nâng cao năng lực cạnh tranh và sự phát triển cho ngành chè tỉnh Yên Bái. Luận văn xin kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình. Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chè 1.
Một số khái niệm về Cạnh tranh và Năng lực cạnh tranh 1. Về cạnh tranh Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng toàn cầu hóa nhƣ hiện nay, các khái niệm liên quan đến cạnh tranh là rất khác nhau. Theo các chính trị gia kinh tế: "Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ để giành chiến thắng trên thị trƣờng và khách hàng cho doanh nghiệp của họ". Theo quan điểm của ngành Marketing, cạnh tranh đƣợc định nghĩa: "Cạnh tranh là thực hiện chiến thuật và chiến lƣợc phù hợp với tiềm năng kinh doanh, chiến lƣợc xử lý tốt chiến thuật của đối thủ, giành lợi thế trong thƣơng mại hàng hoá và dịch vụ để tối đa hóa lợi nhuận".
Trong Từ điển tiếng Việt đƣợc soạn thảo bởi Quốc hội nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam vào năm 1995 (trang 36): "Cạnh tranh là sự đua tranh giữa các nhà sản xuất hàng hóa, thƣơng nhân, nhà đầu tƣ trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng bởi mối quan hệ cung cầu để đạt đƣợc các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và có lợi nhất trên thị trƣờng". Theo định nghĩa này, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, các quốc gia đã trở nên bình đẳng hơn. 8 z Từ điển bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện về sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất (Từ điển bách khoa Việt Nam, 2005). Theo Samuelson thì: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các DN cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trƣờng (Paul A Samuelson, 1985).
Để có cái nhìn khái quát nhất, chúng ta có thể tóm lại nhƣ sau: Cạnh tranh là một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường, là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là sự sống còn của doanh nghiệp. Cạnh tranh cũng có thể là sự đua tranh giữa các doanh nghiệp cho một vài nhân tố hoặc khách hàng để cải thiện vị trí của mình trên thị trường, để đạt được những mục tiêu cụ thể như: lợi nhuận, doanh số, thị phần. Mô hình năm yếu tố cạnh tranh của Michael Porter Trong nền kinh tế thị trƣờng, bất kỳ doanh nghiệp mà hoạt động trên thị trƣờng phải đƣợc dƣới một áp lực cạnh tranh nhất định mà phụ thuộc vào năm yếu tố cạnh tranh cơ bản, đại diện bởi mô hình trong Hình 1.1: 9 z ĐỐI THỦ TIỀM NĂNG GIA NHẬP THỊ TRƢỜNG Nguy cơ có đối thủ gia nhập mới Sức mạnh mặc cả CÁC ĐỐI THỦ Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp TRONG NGÀNH của khách hàng NHÀ KHÁCH HÀNG CUNG CẤP NHÀ PHÂN PHỐI Cạnh tranh giữa các DN đang có mặt trên thị trƣờng Sự đe dọa của hàng hóa và dịch vụ thay thế SẢN PHẨM DỊCH VỤ THAY THẾ Hình 1.1: Mô hình các yếu tố cạnh tranh của Michael Porter 1.
Về nâng cao năng lực cạnh tranh Từ những năm 1980, thuật ngữ "cạnh tranh" đã đƣợc sử dụng rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu và các doanh nhân. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, những thuật ngữ này đƣợc sử dụng nhƣ nhau ở các cấp độ khác nhau của sự cạnh tranh và có thể thay thế cho nhau. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, những thuật ngữ này không giống nhau và mỗi nhà nghiên cứu lại cung cấp một cách nhìn khác về nó. Vì vậy, để có thể đƣa ra một định nghĩa chính xác và riêng biệt và phản ánh từng thời điểm cụ thể là một điều khó thực hiện.
Trong nghiên cứu này, tôi xin nêu tóm tắt nội dung một số khái niệm sau đây: Năng lực cạnh tranh là một trong những quan điểm chƣa có sự thống nhất, nói đến năng lực cạnh tranh phải nói đến chủ thể của cạnh tranh, do đó không có khái niệm 10 z năng lực cạnh tranh nói chung mà khái niệm năng lực cạnh tranh đƣợc áp dụng với cả hai cấp độ: cấp vĩ mô (năng lực cạnh tranh quốc gia hoặc của cả khu vực) và cấp vi mô (năng lực cạnh tranh của DN và năng lực cạnh tranh của sản phẩm). Tác giả Michael Porter cũng thừa nhận rằng không thể đƣa ra một khái niệm tuyệt đối của năng lực cạnh tranh. Theo ông thì “Để cạnh tranh thành công, doanh nghiệp phải có lợi thế cạnh tranh của một trong hai hình thức: chi phí sản xuất thấp hoặc khác biệt sản phẩm” (Michael Porter, 1990).