Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Một số cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh marketing sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh marketing dịch vụ lắp đặt hệ thống ĐHKK của Công ty TNHH Phát triển công nghệ máy ADC Chương 4: Các kết luận và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh marketing dịch vụ lắp đặt hệ thống ĐHKK của Công ty TNHH Phát triển công nghệ máy ADC Luan van 10 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH MARKETING SẢN PHẨM/ DỊCH VỤ CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và phân định một số khái niệm về năng lực cạnh tranh 2.1 Khái niệm cạnh tranh Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế xã hội. Trong đề tài này, thuật ngữ “cạnh tranh” dùng để chỉ cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế, một dạng cụ thể của cạnh tranh. Trong các tài liệu, chưa có định nghĩa thống nhất về sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Có sự dùng lẫn giữa “năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” hay “khả năng cạnh tranh”… Báo cáo về sức cạnh tranh (1985) của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) chỉ ra rằng: sức cạnh tranh quốc tế là năng lực và cơ hội trong hoàn cảnh riêng trước mắt và tương lai của doanh nghiệp có sức hấp dẫn về giá cả và chất lượng hơn so với đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước để thiết kế sản xuất, tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ” UNCTAD thuộc Liên hợp quốc cho rằng, thuật ngữ sức cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được khảo sát dưới góc độ sau: nó có thể được định nghĩa là năng lực của một doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc, hoặc nó cũng có thể được định nghĩa là năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp; hoặc nó còn được định nghĩa như định nghĩa thông thường, là sức cạnh tranh bắt nguồn từ tỷ suất lợi nhuận.
Theo Porter, người từng làm việc trong Hội đồng bên cạnh Tổng thống về sức cạnh tranh các ngành ở Mỹ, thì: “đối với doanh nghiệp, sức cạnh tranh có nghĩa là năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới nhờ áp dụng chiến lược toàn cầu mà có được”. Đối với một số nhà kinh tế học, sức cạnh tranh là giá thành tương đối thấp của một đơn vị sức lao động dựa vào điều chỉnh hối suất. Luan van 11 Từ điển Bách Khoa của Việt Nam (tập 1) định nghĩa: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”. Quan niệm này đã xác định rõ các chủ thể của cạnh tranh là các chủ thể kinh tế và mục đích của họ là nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.
Từ điển Kinh tế kinh doanh Anh – Việt định nghĩa: “Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất”. Quan niệm này khẳng định cạnh tranh diễn ra giữa các doanh nghiệp hoạt động trên cùng một thị trường nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận; đồng thời, cũng chỉ ra hai phương thức cạnh tranh cơ bản là hạ thấp giá bán hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp. Quan niệm này trực diện và rõ ràng hơn nhưng cũng có phạm vi hẹp hơn quan niệm đầu tiên về cạnh tranh. Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác – Lênin nêu ra định nghĩa: “Cạnh trannh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”. Các quan niệm trên đây có sự khác biệt trong diễn đạt và phạm vi, nhưng có những nét tương đồng về nội dung. Từ đó, có thể đưa ra một quan niệm tổng quát sau đây về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất – kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990.
Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”. Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng và năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994). Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm.
Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được thấu hiểu một cách thống nhất. Theo Buckley (1998), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình. Randall lại cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng dành được và duy trì được thị phần trên thị trường với lợi ích nhất định.
Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay. Theo đó, năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp. Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Theo định nghia của Đạo từ điển Tiếng Việt, năng lực cạnh tranh: khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường mục tiêu. Tiếp cận từ góc độ quản trị kinh doanh hiện đại và để nhận dạng, đo lường và đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, GS. TS Nguyễn Bách Luan van 13 Khoa, ĐH Thương mại đã định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp với các khả năng và các nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”. Đây là khái niệm cơ sở mà học viên tuân thủ trong nghiên cứu đề tài luận văn.3 Phân định một số khái niệm về năng lực cạnh tranh Khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh thì người ta có thể phân năng lực cạnh tranh thành 3 cấp độ: - Năng lực cạnh tranh quốc gia:Theo Lương Gia Cường (Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, 2003, NXB Giao thông vận tải): “Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân”.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là sử dụng, liên kết các nguồn lực hữu hình và vô hình của DN nhằm duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. NLCT của doanh nghiệp thể hiện thực lực của doanh nghiệp và lợi thế so với ĐTCT trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao. - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: là tất cả các đặc trưng, yếu tố cấu thành và tiềm năng mà sản phẩm, dịch vụ đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thị trường cạnh tranh một cách lâu dài. NLCT của sản phẩm được đo bằng thị phần của SP/ DV thể hiện trên thị trường.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó. Nó dựa vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong SP/DV đó. Giữa ba cấp độ NLCT có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế NLCT cao phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh mạnh.
Ngược lại, để tạo điều kiện cho DN có khả năng cạnh tranh, môi trường KD của nền kinh tế thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải Luan van 14 rõ ràng, có thể đưa ra nhiều dự báo được, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy quản lý nhà nước phải có tính chuyên nghiệp phù hợp, hoạt động có hiệu quả. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đo lường thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, hiệu quả chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp là cơ sở cho Năng lực cạnh tranh của ngành và quốc gia.