Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số công trình nghiên cứu nước ngoài, trong nước liên quan đến đề tài luận án 1. Một số công trình nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Một số công trình nghiên cứu về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ramona Todericiu, Alexandra Stanit (2015), Intellectual Capital - The Key for Sustainable Competitive Advantage for the SME's Sector (Vốn trí tuệ - Chìa khóa mang lại lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp vừa và nhỏ) [155].
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã chỉ ra, sự quản lý hiệu quả và phát triển nguồn vốn trí tuệ là tài sản vô hình có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp. Tác giả cho rằng, trong môi trường kinh doanh đầy biến động, các doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ của mình, do vậy, doanh nghiệp cần đầu tư vào quản lý, phát triển nguồn vốn trí tuệ để gia tăng lợi thế cạnh tranh trong phát triển dài hạn. Mặt khác, các tác giả cũng đồng thời trình bày vai trò của các tài sản vô hình và nguồn vốn trí tuệ đối với nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia và sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Guangpei Li, Xiaoyu Wang, Shibin Su, Yuan Su (2019), How green technological innovation ability influences enterprise competitiveness, Technology in Society, (Khả năng đổi mới công nghệ xanh ảnh hưởng như thế nào đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, Công nghệ trong xã hội) [139].
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giá khái quát tầm quan trọng của công nghệ xanh đối với các doanh nghiệp, nhất là các sản phẩm có tính cạnh tranh thân thiện với môi trường. Trên cơ sở trình bày khái niệm công nghệ, công nghệ xanh và xây dựng một khung lý luận để mô tả ảnh hưởng của khả năng đổi mới công nghệ xanh của một doanh nghiệp đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Dựa trên phân tích hồi quy thứ bậc của dữ liệu bảo vệ năng lượng và bảo vệ môi trường từ các doanh nghiệp niêm yết tại Trung Quốc từ 11 năm 2011 đến năm 2016. Từ đó, phân tích thực trạng ảnh những tác động tích cực từ đổi mới công nghệ xanh của một doanh nghiệp có tác động tích cực đáng kể đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Từ đó, kiến nghị đối với các doanh nghiệp và chính phủ để mang lại hiệu quả tích cực từ đổi mới công nghệ xanh cần quan tâm đầu tư tài chính; nguồn nhân lực cho nghiên cứu triển khai; tạo cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa khả năng đổi mới công nghệ xanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và tác động trung gian của nó khác nhau tùy thuộc vào các thành phần của khả năng đổi mới công nghệ xanh. Wen-na Li, Elsadany, Wei Zhou, Yan-lan Zhu (2020), Global Analysis, Multi-stability and Synchronization in a Competition Model of Public Enterprises with Consumer Surplus (Phân tích toàn cầu, đa ổn định và đồng bộ hóa trong mô hình cạnh tranh của doanh nghiệp đại chúng với thặng dư tiêu dùng) [166]. Bài viết cho rằng, hành động của các công ty độc quyền sẽ tác động đến giá thị trường của sản phẩm, quyết định mức sản lượng mà họ sẽ tạo ra có lãi hơn bao nhiêu so với sản lượng hiện tại của đối thủ. Cạnh tranh giữa các công ty sẽ duy trì sản xuất ổn định, nghĩa là họ sẽ tiếp tục sản xuất cùng một lượng sản phẩm mà nó hiện đang sản xuất.
Mục đích của doanh nghiệp là tối ưu hóa lợi nhuận của mình và phúc lợi xã hội. Do đó, cần phải tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, hạn chế độc quyền, nhất là các nhóm độc quyền. Junhua Liu, Yazhou Liu, Fu Wang, Ying Cui, Liping Han (2021), Influence of free-market competition and policy intervention competition on enterprise green evolution (Ảnh hưởng của cạnh tranh thị trường tự do và cạnh tranh can thiệp chính sách đối với quá trình phát triển xanh của doanh nghiệp) [130]. Bài viết đã phân tích sự khác biệt giữa cạnh tranh thị trường tự do và can thiệp chính sách đối với quá trình phát triển xanh của doanh nghiệp.
Nghiên cứu này đã đưa ra những gợi ý cho việc xây dựng chính sách liên quan. Kết quả cho thấy, thứ nhất, các can thiệp chính sách giúp đẩy nhanh quá trình phát triển 12 xanh của doanh nghiệp, nhưng người tiêu dùng phải chịu các chi phí cần thiết; thứ hai, các công ty xanh có lợi thế về giá cả, số lượng bán và doanh thu dưới sự can thiệp của chính sách, khi so sánh với các công ty không xanh, vốn có những bất lợi đáng kể hơn dưới sự can thiệp của chính sách. Ngoài ra, cạnh tranh trên thị trường tự do có thể tạo ra nhiều lợi nhuận tích lũy hơn nhưng lại làm mất thời gian để các công ty phát triển xanh. Cuối cùng, một cơ chế nhắm mục tiêu ra quyết định được thiết kế trên cơ sở cán cân thanh toán của chính phủ xem xét giai đoạn hoạch định chính sách và cung cấp tài liệu tham khảo ra quyết định cụ thể cho các nhà hoạch định chính sách.
Lien, Jie Zheng (2021), Optimal subsidies in the competition between private and state-owned enterprises (Trợ cấp tối ưu trong cuộc cạnh tranh giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước) [145]. Bài viết chỉ ra, doanh nghiệp nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế và sự phát triển của Trung Quốc và có ảnh hưởng đến nhiều ngành công nghiệp bao gồm tài chính, năng lượng, kim loại và vận tải, cùng các lĩnh vực khác. Vì vậy, vấn đề bình đẳng đối với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân rất được quan tâm. Các tác giả chỉ ra rằng chính sách trợ cấp tối ưu là đối xử bình đẳng, bất kể sức nặng tương đối của phúc lợi xã hội so với lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nước.
Kết quả này phụ thuộc chặt chẽ vào hình thức sản xuất, nhu cầu thị trường, cơ cấu loại hình doanh nghiệp và tính không đồng nhất trong mục tiêu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc trợ cấp cho các công ty tư nhân không chỉ làm tiêu tốn nguồn lực của chính phủ mà còn có thể làm sai lệch hiệu quả thường đạt được trong một thị trường cạnh tranh. Vì vậy, chính sách tốt nhất của chính phủ là chính sách công bằng giữa các loại hình doanh nghiệp khác nhau hay là ưu đãi cho một số loại hình doanh nghiệp nhất định như doanh nghiệp nhà nước. Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng mặc dù trợ cấp toàn cầu gây tốn kém cho chính phủ, nhưng về mặt lý thuyết, chính sách này vẫn tốt hơn so với chính sách chỉ nhắm vào các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.
Do đó, với điều kiện Chính phủ muốn 13 duy trì khu vực kinh tế thuộc sở hữu nhà nước thì cũng nên cân nhắc kỹ chính sách trợ cấp cho khu vực tư nhân nhằm duy trì các ưu đãi chiến lược phù hợp giữa các loại hình doanh nghiệp. Changchang Wu, Nian Su, Wei Guo, Wendong (2022), Import competition and the improvement in pollutant discharge from heterogeneous enterprises: Evidence from China (Cạnh tranh nhập khẩu và cải thiện xả thải ô nhiễm từ các doanh nghiệp không đồng nhất: Bằng chứng từ Trung Quốc) [111]. Bài viết chỉ ra, với việc tự do hóa thương mại ngày càng sâu rộng, cạnh tranh nhập khẩu ngày càng trở nên khốc liệt ở Trung Quốc. Cạnh tranh nhập khẩu mà các doanh nghiệp nhập khẩu của Trung Quốc phải đối mặt chủ yếu là từ các nước phát triển, với các chính sách và yêu cầu cao về môi trường.
Vì vậy, Chính phủ Trung Quốc đã và đang đặt ra những yêu cầu cao hơn về chất lượng môi trường. Bài báo đã sử dụng dữ liệu bảng từ năm 2000 đến năm 2007 để nghiên cứu tác động của cạnh tranh nhập khẩu đối với cường độ phát thải ô nhiễm của các cơ sở sản xuất khác nhau. Các kết quả chính như sau. (1) Cạnh tranh nhập khẩu có thể kìm hãm cường độ phát thải SO2 của các doanh nghiệp sản xuất (2) Phân tích tính không đồng nhất cho thấy cạnh tranh nhập khẩu tác động đáng kể đến hành vi phát thải ô nhiễm của công ty ở các khu vực phía đông và các ngành công nghiệp biên giới.(3) Hiệu ứng phân bổ lại và hiệu ứng công nghệ là những kênh chính mà qua đó cạnh tranh nhập khẩu cải thiện lượng phát thải ô nhiễm của các doanh nghiệp sản xuất năng suất cao.
Mengyao Zhang, Yao Wang, Xinwu Qian, Jun Zhao, Yongyou Nie, Guangren Qian (2023), Competition and price strategies of hazardous waste collection for small and micro enterprises based on dual-channel reverse supply chain (Chiến lược cạnh tranh và giá cả thu gom chất thải nguy hại cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ dựa trên chuỗi cung ứng ngược kênh đôi) [147]. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày một các toàn diện về cạnh tranh, hợp tác và chiến lược giá thu gom chất thải nguy hại cho doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên mô hình chuỗi cung ứng ngược kép. Theo các tác 14 giả, do lượng chất thải nguy hại phát sinh ít nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải trả giá xử lý gấp 5 - 10 lần so với các doanh nghiệp quy mô lớn để ủy thác cho trung tâm xử lý xử lý. Giá thu gom không tương xứng này thường khiến một số doanh nghiệp vừa và nhỏ đổ trái phép chất thải nguy hại vào bãi chôn lấp và làm tăng rủi ro môi trường.
Sự cạnh tranh trong việc thu gom chất thải nguy hại giữa các trung tâm xử lý chất thải sẽ làm giảm chi phí cho các các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó, cần có cơ chế, chính sách tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các trung tâm xử lý chất thải góp phần xử lý có hiệu quả các chất thải nguy hại của doanh nghiệp. Yang Mu-Jeung, Li Nicholas, Lorenz Kueng (2023), The impact of emerging market competition on innovation and business strategy: Evidence from Canada (Tác động của cạnh tranh thị trường mới nổi đối với đổi mới và chiến lược kinh doanh: Bằng chứng từ Canada) [171]. Bài viết cho rằng, phản ứng đổi mới của các doanh nghiệp phụ thuộc vào loại hình đổi mới: tính sáng tạo, các khuyến khích đổi mới sản phẩm được kích thích bởi cạnh tranh.
Từ đó, các tác giả đã phát triển một lý thuyết kết hợp các loại hình đổi mới khác nhau này với các lựa chọn chiến lược đổi mới một phần không thể đảo ngược để rút ra những hàm ý mới về hiệu suất nhằm đáp ứng với cạnh tranh.