Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Armypharm. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Armypharm. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Lý luận chung về cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh ra đời khi nền kinh tế thị trường xuất hiện.
Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh: Các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển cho rằng cạnh tranh là quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra trong mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình. Cạnh tranh theo hàm nghĩa kinh tế học là chỉ quá trình tranh đấu tiến hành không ngừng giữa các chủ thể kinh tế trong thị trường nhằm thực hiện lợi ích kinh tế và mục tiêu đã định của bản thân. Động lực nội tại của cạnh tranh là lợi ích kinh tế của tự thân chủ kinh tế, biểu hiện cụ thể trong quá trình cạnh tranh là giữ hoặc mở rộng mức chiếm hữu thị trường, gia tăng mức tiêu thụ, nâng cao lợi nhuận.
Áp lực bên ngoài của cạnh tranh là đọ sức kịch liệt giữa các đối thủ cạnh tranh, kẻ bại tất sẽ bị đào thải. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Cạnh tranh buộc những người sản xuất và buôn bán phải cải tiến kĩ thuật, tổ chức quản lí để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hoá, thay đổi mẫu mã, bao bì phù hợp với thị hiếu của khách hàng; giữ tín nhiệm; cải tiến nghiệp vụ thương mại và dịch vụ, giảm giá thành, giữ ổn định hay giảm giá bán và tăng doanh lợi. 6 Theo Karl Marx, khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân và sự chuyển hoá giá trị hàng hoá thành giá trị thị trường và giá cả sản xuất, Ông cũng đã đề cập cạnh tranh gắn với quan hệ cung cầu của hàng hoá.
Karl Marx đã chia cạnh tranh thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau; cạnh tranh giữa các người bán với nhau khi mà cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa những người mua với nhau khi mà cầu lớn hơn cung. Như vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường.2 Phân loại cạnh tranh Cạnh tranh doanh nghiệp là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm tạo lợi thế cho mình và thu được nhiều lợi nhuận hơn, là sự cạnh tranh về lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường bao gồm những người mua và những người bán. Người tiêu dùng với vai trò là người mua, luôn luôn mang muốn mua được những hàng hóa đáp ứng được những nhu cầu của họ với giá rẻ nhất.
Còn các doanh nghiệp, với tư cách là người bán, luôn muốn bán được nhiều hàng và thu được lợi nhuận cao nhất. Để bán được nhiều hàng và thu được lợi nhuận, các doanh nghiệpvừa phải tìm cách giảm thiểu chi phí sản xuất, vừa phải giành giật khách hàng và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình và đây là cơ sơ cho cạnh tranh xuất hiện. Cạnh tranh là cuộc chạy đua khốc liệt mà doanh nghiệp muốn tồn tại thì không được lẩn tránh, phải trực tiếp đối đầu với thử thách, tìm ra những giải pháp để giành thắng lợi trong cuộc chiến đó. Nói cách khác là các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Tùy vào điều kiện khác nhau mà người ta có thể phân loại cạnh tranh như sau: - Căn cứ vào loại thị trường mà trong đó cạnh tranh diễn ra, có cạnh tranh trên các thị trường đầu vào nhằm giành được các nguồn lực sản xuất có chất lượng tốt và chi phí thấp nhất; Cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nhằm chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần, giành khách hàng, cạnh tranh hoàn hảo và không hoàn hảo. - Căn cứ theo phương thức cạnh tranh, có cạnh tranh bằng giá và cạnh tranh 7 phi giá (cạnh tranh bằng chất lượng hàng hóa, thời gian giao hàng, dịch vụ khách hàng, cạnh tranh bằng các thủ đoạn kinh tế và phi kinh tế…). - Căn cứ vào chủ thể tham gia cạnh tranh, có cạnh tranh giữa người mua và người bán, cạnh tranh với những người bán với nhau và cạnh tranh giữa những người mua với nhau. - Theo phạm vị canh tranh, có cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh trong phạm vị lãnh thổ quốc gia và cạnh tranh quốc tế.
- Theo cấp độ cạnh tranh, có cạnh tranh giữa các quốc gia, cạnh tranh giữa các ngành, giữa các doanh nghiệp và cạnh tranh sản phẩm. Giữa các cấp độ cạnh tranh đó có mối quan hệ tương hỗ và suy cho cùng vẫn là cạnh tranh sản phẩm. Thông qua cung cấp sản phẩm mà các chủ thể là các doanh nghiệp, ngành, Nhà nước mong giành thắng lợi trong cạnh tranh, đạt được mục tiêu của mình.2 Vai trò của cạnh tranh doanh nghiệp Khi nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị trường thì cạnh tranh được thừa nhận, quy luật cạnh tranh bộc lộ và vai trò của cạnh tranh trong nền KTTT thể hiện rõ nét hơn, cụ thể: Thứ nhất, đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh đã trở thành điều kiện sống còn của doanh nghiệp trong nền KTTT hiện nay. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh và tìm mọi cách chiếm lấy ưu thế, có như thế thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển được.
Trong nền KTTT, khách hàng có quyền lựa chọn những hàng hóa phù hợp nhất với nhu cầu của mình, doanh nghiệp nào đáp ứng được những điều đó, tức họ sẽ bán được hàng thì doanh nghiệp đó sẽ tồn tại được; ngược lại doanh nghiệp nào không tìm được phương thức thoả mãn nhu cầu trên thị trường, không bán được hàng thì sẽ đi tới thua lỗ và phá sản. Do đó, các doanh nghiệp bắt buộc phải tìm cách nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ của mình nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Mặt khác, để cạnh tranh thu hút được lượng khách hàng lớn nhất thì các doanh nghiệp luôn tìm cách đưa ra mức giá thấp nhất có thể, do vậy buộc các doanh 8 nghiệp phải tìm phương án sản xuất tối ưu, sử dụng công nghệ hiện đại, giảm tới mức thấp nhất các chi phí đầu vào… Cạnh tranh không chỉ ở phạm vi giá cả mà cạnh tranh bằng chất lượng cũng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến quản lý… Như vậy, cạnh tranh tạo nên sức ép buộc doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả nguồn lực sẵn có. Song đồng thời, cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên, các nguồn lực xã hội một cách tối ưu.
Cạnh tranh khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế xã hội. Thứ hai, đối với xã hội: Cạnh tranh được coi là động lực phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động xã hội. Khi có cạnh tranh, các doanh nghiệp tìm mọi cách giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm để giành giật khách hàng và chiếm lĩnh thị trường. Trong cuộc cạnh tranh này, người sản xuất và người tiêu dùng không thể lợi dụng được ưu thế của nhau trên thị trường, do đó cạnh tranh là một yếu tố điều tiết sản xuất và tiêu dùng.
Cạnh tranh loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí cao trong sản xuất, điều đó buộc các doanh nghiệp chọn lựa phương án sản xuất tối ưu. Như vậy, cạnh tranh sẽ tạo ra sự đổi mới, mang đến sự tăng trưởng kinh tế, là động lực phát triển cơ bản nhằm liên kết lợi ích giữa người sản xuất, người tiêu dùng và xã hội. Mặt khác, cạnh tranh còn là yếu tố làm lành mạnh hóa các mối quan hệ kinh tế xã hội, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng và góp phần tạo nền cơ sở cho sự phân phối thu nhập lần đầu. Điều này đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ toàn là ưu điểm mà nó cũng có cả những khuyết tật đặc trưng. Trong điều kiện cạnh tranh, các doanh nghiệp quan tâm trước hết là lợi ích của bản thân doanh nghiệp, do vậy không chú trọng tới lợi ích của doanh nghiệp khác và chưa chú trọng tới giải quyết các vấn đề xã hội. Từ những mâu thuẫn giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp sẽ kéo theo các vấn đề xã hội như thất nghiệp, tiền lương nhân công thấp, môi trường không được giữ gìn… Mặt khác, cạnh tranh 9 thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển nhưng cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng phân hóa mạnh, kẻ thua người thắng trong cạnh tranh có khoảng cách khá xa, do đó mà sẽ có những cuộc cạnh tranh không lành mạnh hay cạnh tranh độc quyền trên thị trường. Vì vậy, trong nền KTTT cần có sự quản lý của nhà nước để đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể tự do cạnh tranh một cách lành mạnh, có hiệu quả.
Vì vậy, cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như của từng doanh nghiệp.2 Các yếu tố cấu thành, tiêu chí đánh giá, những nhân tố ảnh hƣởng và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đầu tiên ta nói đến khái niệm doanh nghiệp là gì?