Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh và nâng cao NLCT của DN. Chương 2: Phản tích và đánh giả thực trạng nâng cao NLCT của CTCP Thương mai và Phát triển Kỹ thuật cao ViHoith. Chương 3: Đề xuất và kiến nghị nhằm nâng cao NLCT của CTCP Thương mại và Phát triển Kỹ thuật cao ViHoth. MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE CANH TRANH VA NANG CAO NANG LUC CANH TRANH CUA DOANH NGHIEP 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm về cạnh tranh Các nhà kinh tế học thuộc trường phái cô điên cho răng cạnh tranh là quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra trong mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phan xứng dang so voi kha nang cua minh. Theo từ dién Bach khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
bị chỉ phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Đối với Michael Porter, ông giải thích: “Cạnh tranh là giành lấy thị phân. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà DN đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”.
“Chiến lược cạnh tranh") Theo cuốn Giáo trình Quản trị chiến lược: “Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thê kinh tế ( nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân.) nhăm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu thụ hàng hóa, địch vụ hay các lợi ích về kinh tế thương mại khác đẻ thu được nhiều lợi ích nhất cho mình” (PGS.TS Nguyễn Hoàng Long, PGS. Nguyễn Hoàng Việt, 2015, NXB Thống kê) Như vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thê hiểu một cách đầy đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thê kinh tế ganh đua nhau đề chiếm lĩnh thị trường, giành lấy KH và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thê khi tham gia thị trường. Khái niệm về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khái niệm NLCT được đẻ cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990.
Theo Aldington Report (1985): *DN có khả năng cạnh tranh là DN có thê sản xuất sản phẩm và địch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của DN và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ DN'. 8 Michael Porter cho rang NLCT ctia DN có thê hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì DN đó có NLCT cao.
Michael Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ân và các sản phâm thay thê. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: NLCT là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thăng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phân) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Những định nghĩa trên cho thấy, NLCT của DN trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của DN. Một DN được coi là có NLCT khi DN đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính DN.
DN cần phải có tiềm lực đủ mạnh dé đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh. NLCT phải so với đối thủ cạnh tranh cụ thê, sản phâm hàng hóa cụ thể trên cùng thị trường và cùng thời gian. Trong phạm vi của khóa luận này, NLCT được tiếp cận theo hướng của Michael Poter:NLCT của DN có thê hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phâm cùng loại (hay sản phâm thay thế) của công ty đó. Phân loại năng lực cạnh tranh Về cơ bản, NLCT được phân thành 4 cấp độ.
bao gồm: - NLCT quốc gia: Có thê hiêu, NLCT quốc gia là toàn bộ các chính sách, thể chế và các nhân tố quyết định đến năng suất, sự phát triên và tính bền vững của một nên kinh tế. - NLCT ngành: cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa DN trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn. - NLCT của DN: là tông hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần trong sản xuất hàng hóa, địch vụ và đáp ứng được các yêu cầu của thị trường. Nói cách khác, NLCT của DN chính là khai thác thực lực và lợi thế bên trong và bên ngoài của DN đề tôi đa hóa lợi ích của mình vừa thỏa mãn tốt nhu cầu của KH.
Đồng thời cải tiến vị thế của DN so với đối thủ. - NLCT của sản phâm, dịch vụ: thê hiện năng lực của sản phẩm, dịch vụ đó thay thế một sản phâm, dịch vụ khác dựa trên các yeu tố như: giá cả, đặc tính, chất lượng. Có thê nói, NLCT của sản phẩm, địch vụ là một yêu tố xây dựng nên NLCT của DN. Các nội dung lý luận của năng lực cạnh tranh 1.
Các yếu tố bên trong cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Nguồn lực tài chính Có thê nói, khả năng tài chính giúp DN khăng định sức cạnh tranh mình trên thị trường. Khả năng tài chính được hiểu là quy mô nguồn tài chính của DN cũng như tình hình hoạt động của các chỉ tiêu tài chính hàng năm như hệ số thu hồi vốn, khả năng thanh toán. Nếu như một DN có khả năng tài chính tốt, khả năng huy động vốn lớn.
sẽ cho DN điều kiện đê mở rộng sản xuất kinh doanh, đôi mới công nghệ và máy móc thiết bị, đồng thời tăng khả năng hợp tác đâu tư về liên doanh, liên kết. Tình hình sử dụng vốn sẽ quyết định chỉ phí về vốn của DN so với đối thủ cạnh tranh. Một DN có tiêm lực mạnh vẻ tài chính thì không những đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN diễn ra liên tục và ôn định mà còn giúp cho DN có nhiều khả năng trong việc đôi mới công nghệ, đầu tư mua sắm trang thiết bị, áp dụng kĩ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm giảm chỉ phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. để duy trì và nâng cao NLCT.
Ngoài ra, tiềm lực tài chính mạnh còn góp phần làm cho DN có thê tăng cường các hoạt động chiêu thị, các chính sách phục vụ KH, gây dựng uy tín và nâng cao hình ảnh của Công ty. Nguôn nhân lực Trong kinh doanh, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo đảm thành công. Nhà lý thuyết tô chức, chuyên gia tài chính và quản lý người Nhật Kenichi Ohmae đã đặt con người lên vị trí số một trên cả vốn và tài sản khi đánh giá sức mạnh của một DN. Yếu tô con người bao trùm lên trên mọi hoạt động của DN thể hiện qua khả năng, trình độ ý thức của đội ngũ quản lý và những người lao động.
Chất lượng nguồn nhân tác động đến khả năng cạnh tranh của DN thông qua các yêu tô về năng suất lao động, ý thức của người lao động trong sản xuất, sự sáng tạo. Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chỉ phí sản xuất. Cơ sở vật chất kỳ thuật và công nghệ Đề có NLCT cao thì DN phải được trang bị công nghệ hiện đại. Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời gian tạo ra sản phâm ngắn, tiêu hao năng lượng và nguyên liệu thấp, năng suất cao, tính linh hoạt cao, chất lượng sản phẩm tốt, ít gây ô nhiễm môi trường.
Sử dụng công nghệ hiện đại giúp DN tăng năng suất lao động, giảm giá thành, chất lượng sản phâm, do đó làm cho NLCT của sản phẩm tăng. DN cần lựa chọn công nghệ thích hợp, nắm bắt được chu kì sống của công nghệ, thời gian hoàn vốn của công nghệ phải ngắn, đào tạo đội ngũ nhân viên có đủ trình độ đề điều khiển và kiểm soát công nghệ nhăm phát huy tối đa năng suất thiết kế của công nghệ. Thuong hiệu 10 Thương hiệu được coi là sức mạnh vô hình của DN. Thương hiệu có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của DN.
Nếu sản phẩm hay dịch vụ của DN có thương hiệu mạnh sẽ kích thích người mua nhanh chóng đi đến quyết định mua, nhờ đó mà thị phần của DN gia tăng. Nhưng đánh giá thương hiệu không chỉ ở số lượng các thương hiệu mạnh DN đang có mà quan trọng phải đánh giá được khả năng phát triên của thương hiệu. Khả năng đó cho thấy sự thành công của DN trong tương lai. Các chỉ tiêu như chi phí cho hoạt động phát triên thương hiệu, số lượng thương hiệu mạnh hiện có, mức độ nồi tiếng và được ưa chuộng của thương hiệu.
so sánh với các chỉ tiêu tương ứng của đối thủ cạnh tranh có thê sử dụng đề phân tích khả năng cạnh tranh của DN. Năng lực tô chức và quản lý doanh nghiệp Thứ nhất là về cơ cấu tô chức của DN. Nếu một DN có cơ cấu tô chức hợp lý, phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng thì mọi hoạt động sẽ trôi chảy, có năng suất. Ngược lại một cơ cầu chồng chéo, quyền lực không được phân chia thì hiệu quả hoạt động sẽ kém.
Trong đó thì cơ cầu Ban lãnh đạo có phẩm chất và tài năng có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới sự thành công của DN. Một nhà lãnh đạo giỏi không chỉ biết làm cho bộ máy công ty vận hành đúng quy luật và còn phải làm cho nó hoạt động một cách linh hoạt, uyên chuyên cho phù hợp với sự thay đôi của môi trường trong và ngoài DN. Thứ hai là công tác đào tạo. Ban lãnh đạo DN trước hết là phải làm tốt công tác giáo dục đào tạo trong công ty.
Lãnh đạo DN phải thường xuyên phô biến mục tiêu, chính sách của công ty đến công nhân viên, giúp nhân viên thấm nhuan văn hóa, chủ trương của DN.