Chương I NHẬN THỨC CHUNG VỀ NẴNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG 1. Năng lực và năng lực cạnh tranh của người lao động 1. Năng lực của người lao động trong nền kinh tế thị trường. Ngay từ buổi sơ khai, con người đã phải lao động để tổn tại.
Quá trình lao động của con người làm biến đổi xã hội loài người từ mông muội, dã man lên văn minh, hiện đại; từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp và hiện nay là văn minh hậu công nghiệp. Nhờ lao động mà năng lực tư duy trừu tượng, khả năng phán đoán, suy luận. của con người cũng dẫn dẫn được hình thành và ngày càng được củng cố, phát triển. Ở mỗi giai đoạn phát triển như vậy, năng lực lao động khác nhau của con người cũng phát triển theo.
Ở xã hội văn minh nông nghiệp, con người lao động theo bản nang. Họ đã có ý thức lao động là để phục vụ cho đời sống của bản thân (làm ra của cải để ăn, mặc, sinh hoạt. Nhưng năng lực lao động của con người chỉ giới hạn ở mức sơ khai, tư duy trí tuệ chưa thoát khỏi sự chỉ phối của tự nhiên, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Trong điều kiện như vậy, năng lực của con người chưa có khả năng và cơ hội bộc lộ.
Vậy thì năng lực của con người là gì? "Nang lực của con người chính là khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc hay là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì "!! Trong nên kinh tế tự nhiên, con người lao động chủ yếu bằng chân tay, bằng việc tìm kiếm nguồn thức ăn có s&n trong tự nhiên (như trái cây, động vật.) để phục vụ cho bản than, Tuy nhiên, hiệu quả công việc do lao động đem lại không TP HỖ CHÍ MINH. THANG 5 NAM 2005 7 PHAM THỊ NGA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP giống nhau. Chẳng hạn, có những người bất được không chỉ một con nai mà là hai hay nhiều hơn nữa, và đĩ nhiên cũng có những người không bắt được gì cả! Tại sao vậy? Vì trong thời kỳ này, mọi người đều có khả năng săn bắt và hái lượm. Tuy nhiên, mỗi người lại có một lối tư duy và hành động khác nhau, chịu sự chỉ phối và tác động khác nhau.
Có người trong quá trình săn bắt, hái lượm đã tìm cách phải làm thế nào để săn bắt, hái lượm được nhiều nhất, dễ dàng nhất. Trong quá trình lao động, họ đã phải quan sát, tìm hiểu va dẫn dan tích lũy trở thành kinh nghiệm cho bản thân. Những người đó là những người có năng lực tư duy nhạy bén hơn. Ngược lại, có những người chỉ biết san bắt một cách thụ động, chịu bất lực trước sự vụt chạy của con mổi mà không có cách để khuất phục chúng.
Trong những trường hợp như vậy, năng lực của mỗi con người đã có cơ hội bộc lộ ra một cách rõ rệt nhất. Từ kinh tế tự nhiên chuyển sang kinh tế hàng hóa là một bước tiến dài trong lịch sử xã hội loài người. Nếu ở thời kỳ kinh tế tự nhiên, năng lực lao động của con người chỉ mới dừng lại ở sự cẩn thiết khéo léo của đôi tay, đời sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên thì sang đến thời kỳ kinh tế hàng hóa, người lao động cẩn nhiều đến các yếu tố khác nữa, nhưng quan trọng hơn cả là các yếu tố về mặt xã hội. Kinh tế hàng hóa bắt đầu từ sự hình thành kinh tế hàng hóa giản đơn chuyển lên kinh tế thị trường tự do rồi đến kinh tế thị trường hỗn hợp.
Quá trình này diễn ra trong một thời gian tương đối nhanh hơn so với thời gian chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hóa. Nếu trong nền kinh tế tự nhiên, năng lực lao động của con người bị chỉ phối, giới hạn bởi nhân thức tự nhiên thì đến giai đoạn kinh tế hàng hóa. năng lực lao động của con người đã phát triển vượt bậc. TP HỖ CHÍ MINH, THANG 3 NĂM 2005 ' ' 8 PHAM THỊ NGA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người.
Trong nền kinh tế thị trường, người lao động trở thành trung tâm và làm chủ quá trình lao động san xuất của xã hội. Do đó, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, người lao động phải có những năng lực nhất định. Trong nên kinh tế tập trung bao cấp, người lao động không có điều kiện để phát huy hết nang lực của mình. Quan niệm "bình quân chủ nghĩa” đã triệt tiêu mong muốn vươn lên, khẳng định bản thân trong cuộc sống.
Người lao động muốn học tập, làm việc, đầu tư sản xuất kinh doanh. cũng khó có thể thực hiện được do những rào cản vé cơ chế (ví dụ như ngành nghé đó có nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế của nhà nước không?). Do đó, lao động — đồng nghĩa với có việc làm - chưa thực sự trở thành nhu cầu cần thiết, chưa là động lực thôi thúc người lao động. Trong nên kinh tế thị trường, do không còn được bao cấp việc làm cũng như lương thực thực phẩm, người lao động đã phải tự tìm kiếm công việc phù hợp để kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình.
Người lao động luôn mong muốn tìm được một công việc phù hợp và có diéu kiện để phát huy hết khả năng của mình. Do đó, việc làm đã trở thành nhu cầu thiết yếu của con người. Khi đó, năng lực của người lao động sẽ là cái để phân biệt người này với người khác, quyết định thành công hay thất bại của họ trong lao động. Khi đánh giá một người nào đó, người ta vẫn thường dùng câu “Anh/chị đó là một người có năng lực”.
Ở đây, năng lực được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao hàm nhiều yếu tố như trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và nhiều kỹ năng khác. Người lao động phải luôn ở trong tư thế chủ động, nắm bắt mọi cơ hội để chứng tỏ năng lực của mình. TP HỖ CHÍ MÌNH, THANG 5 NAM 2005 9 PHAM THỊ NGA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Thực tế đã cho chúng ta thấy rằng, năng lực của người lao động trong nền kinh tế thị trường so với thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung (bao cấp) có một sự khác biệt rất lớn. Trong nền kinh tế bao cấp.
quá trình sản xuất xã hội đã có kế hoạch từ Trung ương quán triệt đến từng địa phương, sản phẩm làm ra không được tự do buôn bán trên thị trường mà do Nhà nước độc quyển phân phối. Mọi quy luật của nền kinh tế như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cẩu. đều bị triệt tiêu hoặc xem nhẹ. Diéu này đã tác động rất lớn đến năng lực làm việc của người lao động.
Họ không can phải nỗ lực phấn đấu trong công việc, không cẩn phải phát huy hết năng lực của mình mà cũng có thể được hưởng những quyền lợi ngang bằng với những lao động khác. Ngược lại, khi Nhà nước thừa nhận nền kinh tế thị trường với nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế tương ứng, người lao động có cơ hội làm việc trong những điều kiện tốt nhất, được hưởng nhiều lợi ích xứng đáng với sức lao động mà họ bỏ ra. Khi quan hệ mua - bán sức lao động được xác lập thì người có nhu cẩu thuê mướn sức lao động sẽ luôn đòi hỏi ở người lao động những tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc đặt ra. Điều này buộc người lao động phải nỗ lực phấn đấu hết mình, phải tự trang bị cho mình những kiến thức, phẩm chất và kỹ năng can thiết để nắm bắt cơ hội cho bản thân.
Có như vay, nang lực của người lao động mới được khẳng định và thể hiện rõ rang nhất. Còn ngược lại, khi không có những tiêu chuẩn cần thiết đáp ứng yêu cầu của công việc, người lao động sẽ bị chủ thể sử dụng sức lao động không tiếp nhận hoặc sẽ bị sa thải. Khi bàn đến năng lực của người lao động trong nền kinh tế thị trường, tác giả chia lao động thành hai lĩnh vực, đó là lĩnh vực quản lý và lĩnh vực trực tiếp lao [P HỖ CHÍ MINH. THANG $ NAM 2008 10 PHAM THỊ NGA KHOA LUAN TOT NGHIEP dong.
Ở mỗi lĩnh vực, đòi hỏi người lao động phải có những năng lực đặc trưng cho lĩnh vực của mình nhưng đồng thời nó cũng là những yếu tố có mối liên hệ không thể tách rời. Người quản lý là người vạch ra những chiến lược, kế hoạch hoạt động đem lại hiệu quả cao nhất cho công ty, xí nghiệp. Do đó, người quản lý phải thật sự là người có năng lực. Cùng với sự phát triển của xã hội, nang lực của người quản lý đã có những bước phát triển đáng kể.
Trong thời kỳ bao cấp, người quản lý thường là những người được bổ nhiệm, để bạt xuất phát từ những thành tích đã đạt được trong chiến đấu, chứ không căn cứ vào năng lực thực tiễn của từng người. Chính lối tư duy sai lầm, lấy tỉnh thần, ý chí chủ quan áp đặt cho hiện thực khách quan trong nhiều lĩnh vực là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Trong nền kính tế thị trường. dưới tác động của quy luật cạnh tranh, các doanh nghiệp muốn tồn tại và vươn lên thì cần phải có đội ngũ nhân viên giỏi, trong đó, người quản lý giỏi sẽ có đóng góp rất lớn cho sự thành công của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, tùy từng vị trí, quy mô quản lý mà người quản lý cần phải có những trình độ và nang lực nhất định như: kiến thức, năng lực, tính cách, đạo đức. Về kiến thức: bao gồm kiến thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội; nắm vững lý luận và phương pháp quản lý. Trong đó, người quản lý phải thật vững về kiến thức chuyên môn. Vé năng lực: là sự phức hợp nhiều yếu tố: kinh nghiệm thực tiễn, khả năng sáng tạo, năng lực dùng người, quyết sách, khống chế bản thân, phân tích, phán đoán, hoạt động xã hội, năng lực thích ứng, năng lực chỉ huy.
Trong những yếu tố trên, phương pháp quản lý và năng lực chỉ huy là hai yếu tố quan trọng nhất. Người quản lý giỏi là một người không những giỏi vé chuyên môn mà còn phải TP HỖ CHÍ MINH, THANG 5 NAM 2005 H PHAM THỊ NGA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP biết cách dùng người, biết phân công công việc cho từng người, vào từng vị trí phù hợp với năng lực, sở trường của người lao động.