Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nâng cao năng lực cạnh tranh cho người lao động trên thị trường sức lao động Thành phố Hồ Chí Minh" do sinh viên Phạm Thị Nga thực hiện tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 5/2005), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Thị Xuyến.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị tập trung đông dân nhất cả nước, đóng vai trò đầu tàu kinh tế - văn hóa - xã hội. Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2004–2005), quy mô dân số trong độ tuổi lao động của thành phố đạt trên 4 triệu người (chưa kể khoảng 3.000 lao động nước ngoài làm việc tại các văn phòng đại diện và doanh nghiệp), mỗi năm bổ sung thêm khoảng 1 triệu người vào nguồn cung lao động, đồng thời tồn tại hơn 250.000 người thất nghiệp. Thực tiễn thị trường lao động bộc lộ mâu thuẫn lớn: nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp rất cao và nguồn cung lao động dồi dào, song tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn tiếp diễn. Phần lớn người lao động trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, năng lực cạnh tranh còn yếu kém, dẫn đến việc ít giành được các vị trí quản trị, điều hành chủ chốt trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu và bài viết trước đó (giai đoạn 2001–2004) chủ yếu phản ánh các biểu hiện bên ngoài của thị trường như tình trạng yếu ngoại ngữ, thiếu sáng tạo, hoặc mất cân đối cung - cầu mang tính tản mạn, chưa đi sâu vào bản chất khoa học của "năng lực cạnh tranh của người lao động". Vì vậy, đề tài được lựa chọn nhằm giải quyết căn bản vấn đề việc làm dưới góc độ kinh tế chính trị và giáo dục chính trị.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Văn bản xác định mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm ba nội dung:
- Xác định những mặt mạnh và mặt hạn chế trong năng lực của người lao động trên thị trường sức lao động Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tìm ra và đề xuất hệ thống các biện pháp phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt hạn chế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho người lao động.
- Rút ra các kinh nghiệm thực tiễn giúp người học và người lao động tự trang bị tri thức, chuyên môn, kỹ năng đáp ứng yêu cầu công việc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của người lao động và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh trên thị trường sức lao động.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (gồm các khu công nghiệp, khu chế xuất, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).
- Thời gian: Tập trung phân tích số liệu thực trạng giai đoạn 2000–2004 và định hướng phát triển sau năm 2005.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế chính trị:
- Khái niệm năng lực: Được định nghĩa là khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc hoặc những điều kiện đủ/vốn có để làm một việc cụ thể.
- Khái niệm năng lực cạnh tranh của người lao động: Khả năng khai thác tri thức, năng lực, sở trường để giành thắng lợi trên thị trường sức lao động và đáp ứng tốt nhất yêu cầu công việc.
- Hàng hóa sức lao động: Phân tích dựa trên lý luận Mác-xít với hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa (người lao động được tự do về thân thể và bị tước đoạt tư liệu sản xuất), mang hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng.
- Quy luật kinh tế thị trường: Vận dụng các quy luật khách quan gồm quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh và phân công lao động xã hội.
- Mô hình nhân lực thế kỷ XXI: Cấu trúc theo mô hình "Tri thức – Năng lực – Phẩm chất".
Văn bản pháp luật và định chế quản lý
Nghiên cứu phân tích quá trình thể chế chế định sức lao động tại Việt Nam thông qua:
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) và Đại hội VIII (1996) về phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) ghi nhận quyền tự do kinh doanh và quyền lao động của công dân.
- Bộ luật Lao động năm 1994 (Quốc hội khóa IX thông qua ngày 23/6/1994) – văn bản pháp lý nền tảng thừa nhận quan hệ thuê mướn lao động theo cơ chế thị trường.
- Nghị định số 233/HĐBT (tháng 6/1990) của Hội đồng Bộ trưởng về quản lý lao động người nước ngoài.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp luận: Phương pháp biện chứng duy vật; phương pháp logic kết hợp phương pháp lịch sử.
- Phương pháp thực tiễn: Phương pháp thống kê mô tả, phân tích kinh tế, tổng hợp và so sánh số liệu thứ cấp.
- Nguồn dữ liệu thực tế:
- Báo cáo số liệu của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP.HCM; Phòng Quản lý lao động nước ngoài.
- Niên giám thống kê TP.HCM năm 2003, 2004 của Cục Thống kê TP.HCM.
- Tư liệu từ Trung tâm Giới thiệu việc làm Thành đoàn TP.HCM và Báo cáo phát triển con người Việt Nam (UNDP).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Nhận thức chung về năng lực cạnh tranh của người lao động trên thị trường sức lao động
Chương 1 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về năng lực cá nhân và sự hình thành năng lực cạnh tranh:
- Tiến trình phát triển năng lực: Phân tích sự chuyển biến từ nền kinh tế tự nhiên (lao động cơ bắp, phụ thuộc tự nhiên) sang kinh tế kế hoạch tập trung (bình quân chủ nghĩa triệt tiêu động lực phấn đấu), và kinh tế thị trường (người lao động làm chủ, năng lực quyết định sự thành bại).
- Phân loại năng lực theo lĩnh vực:
- Lao động quản lý: Đòi hỏi phức hợp kiến thức chuyên môn, năng lực chỉ huy, dùng người, tính cách quyết đoán và đạo đức trung thực.
- Lao động trực tiếp: Đòi hỏi tính chủ động, tay nghề, tính kỷ luật và sự thích ứng.
- Các năng lực hiện đại thời đại kinh tế tri thức: Năng lực tiếp thu tri thức; tiếp thu và xử lý thông tin; năng lực đổi mới; năng lực diễn đạt tư duy; năng lực giao tiếp. Khóa luận dẫn chứng bảng chu kỳ rút ngắn từ phát hiện khoa học đến phát minh kỹ thuật (trước thế kỷ XX mất 30 năm, giữa thế kỷ XX còn 10 năm, cuối thế kỷ XX rút xuống 5 năm).
- Bảy yếu tố hợp thành năng lực cạnh tranh:
- Trình độ học vấn: Nền tảng tiếp thu kỹ thuật mới (dẫn chỉ số giáo dục Việt Nam đạt 0.83 theo UNDP).
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Phản ánh kỹ năng phân công lao động sâu.
- Trình độ ngoại ngữ, tin học: Công cụ cốt lõi để tiếp cận tri thức toàn cầu hóa và vận hành thiết bị nhập khẩu.
- Khả năng sáng tạo: Năng lực tạo ra giá trị mới, khắc phục lối giáo dục thụ động.
- Khả năng hòa hợp, thích ứng trong tổ chức: Khả năng linh hoạt trước sự thay đổi công nghệ và môi trường làm việc.
- Ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết: Tác phong công nghiệp hiện đại thay thế thói quen nông nghiệp lề mề, tùy tiện.
- Thể lực: Sức bền thể chất và tâm lý chịu áp lực công việc.
- Cơ sở hình thành năng lực cạnh tranh: Bắt nguồn từ hai điều kiện khách quan: bản chất hàng hóa của sức lao động và sự chi phối trực tiếp của quy luật cạnh tranh (giữa người làm thuê với nhau, giữa các chủ thuê, và giữa người làm thuê với chủ thuê).
Chương 2: Sự thể hiện năng lực cạnh tranh của người lao động trên thị trường sức lao động tại TP. Hồ Chí Minh
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng cung - cầu và mức độ cạnh tranh thực tế:
- Quá trình hình thành và đặc điểm thị trường lao động TP.HCM: Thị trường trải qua các giai đoạn từ trước 1975, thời kỳ bao cấp "xin - cho", đến khi chính thức xác lập bằng Bộ luật Lao động 1994. Thị trường có 4 đặc điểm lớn: hình thành sớm với quan hệ cung - cầu đa dạng; lực lượng dồi dào, trẻ nhưng bị phân mảng (hộ khẩu thường trú và nhập cư KT3, KT4); mất cân đối cung - cầu lớn (thừa lao động giản đơn, thiếu chuyên gia kỹ thuật và quản lý); tính cạnh tranh ngày càng gay gắt.
- Thực trạng Cung sức lao động:
- Quy mô dân số thường trú (01/10/2004) đạt 6.251 nghìn người, dân số trong độ tuổi lao động là 4.873 nghìn người (chiếm 67,61%).
- Lao động nhập cư diện KT3, KT4 chiếm 30,1% (1.548 nghìn người), tập trung tại các quận vùng ven (Thủ Đức, Tân Bình, Quận 12).
- Lao động nước ngoài: Tăng từ 596 người (năm 1994) lên gần 3.000 người (năm 2004), phần lớn giữ vị trí chuyên gia, điều hành.
- Về chất lượng: Lao động chưa qua đào tạo chiếm tới 39,59% (>800.000 người); lao động qua đào tạo từ sơ cấp trở lên chiếm 60,41% (trong đó sơ cấp 15,30%, công nhân kỹ thuật không bằng 12,62%, công nhân kỹ thuật bậc 3 đạt 18,00%, trung học chuyên nghiệp 3,58%, cao đẳng - đại học và trên đại học chiếm 10,91%).
- Thực trạng Cầu sức lao động:
- Tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế là 2.054 nghìn người.
- Phân theo thành phần kinh tế: Khu vực ngoài quốc doanh chiếm ưu thế tuyệt đối (66,09%), khu vực nhà nước chiếm 26,95%, khu vực có vốn FDI chiếm 6,96%.
- Phân theo ngành: Dịch vụ - thương mại chiếm 58,77%, công nghiệp - xây dựng chiếm 34,92%, nông nghiệp chiếm 6,31%.
- Thu hút việc làm: 2 khu chế xuất (Tân Thuận, Linh Trung) giải quyết việc làm cho 41.718 lao động.
- Diện mạo cạnh tranh thực tế:
- Cạnh tranh nội bộ: Giữa lao động có bằng cấp tốt nghiệp tại thành phố với lao động nhập cư; giữa lao động có hộ khẩu thành phố với lao động nông thôn làm việc bán thời gian. Rào cản lớn nhất của lao động trong nước là yếu ngoại ngữ, tin học và thiếu kinh nghiệm thực tế.
- Cạnh tranh với lao động nước ngoài: 2.322 văn phòng đại diện của 53 quốc gia/vùng lãnh thổ hoạt động tại TP.HCM tuyển dụng lao động nước ngoài vào các vị trí then chốt nhờ ưu thế vượt trội về trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, tác phong công nghiệp và tính kỷ luật.
(Ghi chú cấu trúc: Chương 2 còn phân tích sự cạnh tranh giữa các nhà tuyển dụng trong việc thu hút nhân lực chất lượng cao và săn đầu người).
Chương 3: Dự báo cung cầu sức lao động và những biện pháp cơ bản nâng cao năng lực cạnh tranh cho người lao động tại TP. Hồ Chí Minh
- Dự báo xu hướng: Thị trường dịch chuyển mạnh sang các ngành công nghệ cao, điện tử, viễn thông, dịch vụ tài chính, kiểm toán, đòi hỏi tỷ trọng lao động chất xám và kỹ năng phức hợp ngày càng lớn.
- Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh:
- Về phía Nhà nước và chính quyền TP.HCM: Hoàn thiện thể chế thị trường lao động; quy hoạch đồng bộ mạng lưới đào tạo nghề; xóa bỏ các rào cản hành chính về hộ khẩu trong tuyển dụng; quản lý chặt chẽ nguồn lao động nước ngoài.
- Về phía các cơ sở đào tạo: Đổi mới chương trình đào tạo theo nhu cầu thực tế của thị trường; tăng cường thực hành, đào tạo tin học, ngoại ngữ; đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm kích thích tư duy độc lập, sáng tạo.
- Về phía doanh nghiệp sử dụng lao động: Xây dựng chính sách tiền lương, thưởng minh bạch; chú trọng đào tạo lại nhân viên; tạo lập môi trường làm việc công nghiệp kỷ luật.
- Về phía bản thân người lao động: Chủ động tự học, trau dồi chuyên môn; rèn luyện ngoại ngữ, tin học; nâng cao ý thức kỷ luật lao động và tinh thần hợp tác nhóm.
Kết quả và đóng góp
Dữ liệu thống kê trọng tâm của nghiên cứu
| Chỉ tiêu thống kê (TP.HCM giai đoạn 2003–2004) |
Giá trị / Tỷ lệ |
| Dân số thường trú (thời điểm 01/10/2004) |
6.251.000 người |
| Lực lượng trong độ tuổi lao động |
4.873.000 người (chiếm 67,61% dân số) |
| Lao động nhập cư diện cư trú KT3, KT4 |
1.548.000 người (chiếm 30,1% dân số cư trú) |
| Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo |
39,59% (hơn 800.000 người) |
| Tỷ lệ lao động có trình độ Cao đẳng, Đại học trở lên |
10,91% (tính gộp cả THCN là 14,49%) |
| Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế: Ngoài quốc doanh |
66,09% |
| Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế: Nhà nước |
26,95% |
| Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế: Có vốn FDI |
6,96% |
| Phân bổ ngành: Thương mại – Dịch vụ |
58,77% |
| Phân bổ ngành: Công nghiệp – Xây dựng |
34,92% |
| Phân bổ ngành: Nông nghiệp |
6,31% |
| Số lượng văn phòng đại diện kinh tế nước ngoài (đến 15/12/2004) |
2.322 văn phòng (thuộc 53 quốc gia/vùng lãnh thổ) |
| Số người thất nghiệp tại thành phố (năm 2004) |
253.529 người (chiếm 6,13% nguồn lao động) |
Đóng góp của đề tài
- Làm rõ bản chất kinh tế chính trị: Khóa luận chuyển hóa các nghiên cứu việc làm từ tiếp cận hiện tượng xã hội đơn thuần sang nghiên cứu bản chất cạnh tranh của hàng hóa sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Khái quát hóa khung năng lực cạnh tranh: Đưa ra hệ thống 7 tiêu chí cấu thành năng lực cạnh tranh cá nhân phù hợp với bối cảnh phát triển đô thị.
- Phân tích bức tranh thực tiễn: Cung cấp hệ thống số liệu chi tiết về cơ cấu dân số, phân tầng lao động, chất lượng đào tạo và thực trạng mất cân đối việc làm tại Thành phố Hồ Chí Minh đầu thập niên 2000.
- Hệ thống hóa giải pháp liên ngành: Đề xuất đồng bộ các giải pháp kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống giáo dục - đào tạo, doanh nghiệp và chính bản thân người lao động.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nghiên cứu thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học, nguồn tài liệu chuyên sâu về "năng lực cạnh tranh cá nhân của người lao động" tại thời điểm năm 2005 còn tản mạn.
- Số liệu thực chứng chủ yếu là số liệu thứ cấp từ Niên giám Thống kê và báo cáo của các Sở, Ban, Ngành (giai đoạn 2000–2004), chưa tiến hành khảo sát điều tra xã hội học định lượng diện rộng trực tiếp tại các doanh nghiệp.
- Hướng mở rộng:
- Mở rộng khảo sát định lượng nhu cầu tuyển dụng thực tế đối với từng nhóm ngành công nghệ cao và dịch vụ tài chính tại các khu chế xuất, khu công nghiệp.
- Phân tích sâu hơn tác động của việc gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế đối với sự dịch chuyển của thị trường lao động chất lượng cao.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Giảng viên, sinh viên ngành Giáo dục Chính trị, Kinh tế Chính trị, Quản trị Nhân lực, Xã hội học Lao động tham khảo khung lý luận về hàng hóa sức lao động và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh.
- Cán bộ hoạch định chính sách lao động - việc làm tại các đô thị lớn.
- Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về 7 yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh và mô hình đào tạo nhân lực "Tri thức - Năng lực - Phẩm chất".
- Chương 2: Phương pháp tổng hợp, phân tích cơ cấu cung - cầu lao động và hệ thống dữ liệu kinh tế - xã hội TP.HCM giai đoạn 2000–2004.
- Phân tích so sánh lợi thế cạnh tranh giữa lao động nội địa và lao động nước ngoài tại các văn phòng đại diện kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả định nghĩa năng lực cạnh tranh của người lao động như thế nào?
Năng lực cạnh tranh của người lao động được xác định là khả năng khai thác các kiến thức, năng lực, sở trường và phẩm chất vốn có của bản thân để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của vị trí việc làm, qua đó giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh trên thị trường sức lao động.
2. Khóa luận xác định bao nhiêu yếu tố hợp thành năng lực cạnh tranh của người lao động?
Khóa luận xác định cụ thể 7 yếu tố cấu thành:
- Trình độ học vấn
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
- Trình độ ngoại ngữ và tin học
- Khả năng sáng tạo
- Khả năng hòa hợp, thích ứng trong tổ chức
- Ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần đoàn kết
- Thể lực (bao gồm thể trạng và sức khỏe tinh thần)
3. Tỷ lệ phân bổ trình độ chuyên môn của lực lượng lao động tại TP.HCM năm 2004 là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê trong khóa luận:
- Lao động chưa qua đào tạo chiếm 39,59% (>800.000 người).
- Lao động qua đào tạo từ sơ cấp trở lên chiếm 60,41% (~1,2 triệu người), gồm: Sơ cấp (15,30%), Công nhân kỹ thuật không bằng (12,62%), Công nhân kỹ thuật bậc 3 (18,00%), Trung học chuyên nghiệp (3,58%), Cao đẳng, Đại học và trên Đại học (10,91%).
4. Văn bản pháp luật nào được xác định là cơ sở pháp lý nền tảng cho sự hình thành thị trường sức lao động ở Việt Nam?
Bộ luật Lao động năm 1994 (được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 23/6/1994) trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 được xác định là mốc pháp lý tạo ra bước chuyển về chất, chính thức thừa nhận và bảo đảm quyền tự do thuê mướn, mua bán sức lao động theo cơ chế thị trường.
5. Lao động trong nước tại TP.HCM gặp những điểm yếu cơ bản nào khi cạnh tranh với lao động nước ngoài?
Lao động trong nước bị hạn chế lớn nhất ở trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học ứng dụng, kinh nghiệm quản lý điều hành hiện đại, tính chủ động sáng tạo và tác phong lao động công nghiệp (còn mang nặng tác phong nông nghiệp lề mề, thiếu tính kỷ luật nghiêm ngặt).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Nga đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về hàng hóa sức lao động và năng lực cạnh tranh cá nhân trong nền kinh tế thị trường. Thông qua nguồn dữ liệu thống kê phong phú giai đoạn 2000–2004, công trình đã làm rõ bức tranh thực trạng cung - cầu, phân tích sâu sắc các rào cản năng lực của lực lượng lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các giải pháp được đề xuất mang tính hệ thống, gắn kết trách nhiệm giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và người lao động, đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho nghiên cứu lao động - việc làm đô thị.