đặt vấn đề này trong mối tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh nêu trên. Một mặt, tổng hợp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi 12 trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước (đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế).
Trong đó, các cam kết quốc tế, các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành/sản phẩm hàng hóa trong quốc gia đó. Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng. Lợi thế có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích cho người mua tương đương), hoặc việc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn. Lợi thế cạnh tranh, trang 26).
Lợi thế cạnh tranh là sở hữu những giá trị đặc thù, có thể sử dụng để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh đạt được lợi nhuận cao nhất. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, chúng ta nói đến lợi thế mà doanh nghiệp đang có và sẽ có trong tương lai so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Bằng việc khai thác các năng lực cốt lõi hoặc lợi thế cạnh tranh để đáp ứng tất cả các chuẩn mực yêu cầu của cạnh tranh, các doanh nghiệp tạo ra giá trị cho khách hàng của họ. Về bản chất, việc tạo ra giá trị vượt trội không nhất thiết yêu cầu doanh nghiệp phải có cấu trúc chi phí thấp nhất trong ngành hay tạo ra một sản phẩm có giá trị nhất cho khách hàng mà là độ lệch giữa giá trị nhận thức được và chi phí sản xuất lớn hơn các đối thủ trong cùng ngành.
Khi một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ có cái mà các đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà các đối thủ khác không thể làm được. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp và các doanh nghiệp đều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh và năng lực cốt lõi của mình. Cách thức tạo ra lợi thế cạnh tranh và duy trì năng lực cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là tâm điểm của mọi chiến lược, và để đạt được điều này thì doanh nghiệp phải lựa chọn – có nghĩa là nếu doanh nghiệp muốn giành được lợi thế cạnh tranh, họ phải xác định được đó là lợi thế nào và trong phạm vi nào. Theo phân tích của Michael E.Porter, lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp 13 đạt được thông qua chi phí thấp và khác biệt hóa trong việc phối hợp với phạm vi thị trường.
LỢI THẾ CẠNH TRANH Chi phí thấp Khác biệt hóa Mục tiêu rộng 1. Chi phí tối ưu 2. Khác biệt hóa PHẠM VI CẠNH TRANH 3A. Tập trung vào 3B.
Tập trung vào Mục tiêu hẹp chi phí khác biệt hóa Hình 1-1. Ba chiến lược duy trì năng lực cạnh tranh của Michael E. Porter (Nguồn: Michael E. Lợi thế cạnh tranh, trang 35) 1.
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường, bao gồm môi trường vĩ mô, môi trường vĩ mô, và hoàn cảnh nội bộ của chính doanh nghiệp. Do đó, khi phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đều phải xác định và phân tích tính phức tạp và năng động của môi trường mà doanh nghiệp đang tồn tại. Môi trường vĩ mô Đánh giá môi trường vĩ mô bao gồm: (1) nghiên cứu tổng quát các yếu tố môi trường; (2) quan sát các thay đổi nhằm xác định xu hướng môi trường kinh doanh; (3) dự đoán về những rủi ro và vấn đề tiềm ẩn trong tương lai; (4) và xác định các tác động đến hoạt động của doanh nghiệp. Điều này giúp doanh nghiệp trả lời được câu hỏi doanh nghiệp đang đối mặt với những vấn đề gì và có tác động như thế nào đến hoạt động kinh doanh.
Các yếu tố đánh giá môi trường vĩ mô bao gồm: - Yếu tố kinh tế: môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng, sự ổn định của nền kinh tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hối đoái…Những biến động của các yếu tố kinh tế đều có thể tạo ra cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải luôn theo dõi, phân tích, dự báo biến động của từng yếu tố để xác định những chính sách, giải pháp 14 cho từng thời điểm nhằm khai thác tất cả các cơ hội và giảm thiểu những rủi ro từ những thách thức. - Yếu tố Chính phủ, luật pháp và chính trị: Ngành xây dựng chịu tác động của rất nhiều các chính sách, bộ luật liên quan như luật xây dựng, luật môi trường, quy định về phòng cháy chữa cháy, an toàn lao động, luật cạnh tranh…Do vậy, bất cứ sự thay đổi nào trong hệ thống pháp luật, quy chuẩn, chính sách sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. - Yếu tố công nghệ và kỹ thuật: Đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí, năng suất, tiến độ và an toàn lao động trong quá trình thi công.
- Yếu tố văn hóa – xã hội: các yếu tố văn hóa xã hội có tác động trực tiếp đến hành vi của khách hành, nguồn nhân lực của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp. (Nguồn: Fred R David, 2003. Khái luận về quản trị chiến lược) 1. Môi trường vi mô - Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael E.Porter Trong bất cứ ngành nghề nào, cho dù là ở phạm vi trong nước hay quốc tế, ngành sản xuất hay dịch vụ, quy luật cạnh tranh thể hiện qua 5 nguồn áp lực: sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh mới, nguy cơ từ các sản phẩm/dịch vụ thay thế, áp lực từ khách hàng, áp lực từ nhà cung cấp, và áp lực từ các đối thủ cạnh tranh hiện tại.
Đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh trong ngành của doanh nghiệp. 15 Những đối thủ mới tiềm năng Nguy cơ từ những đối thủ mới Những đối thủ cạnh tranh trong Năng lực đàm ngành Năng lực đàm phán của nhà phán của người cung cấp mua Nhà cung cấp Người mua Cạnh tranh giữa các đối thủ hiện hữu Nguy cơ của sản phẩm/ dịch vụ thay thế Sản phẩm thay thế Hình 1-2. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael E.Porter (Nguồn: Michael E. Lợi thế cạnh tranh, trang 35) Áp lực từ những đối thủ tiềm ẩn mới: theo Michael E.Porter có những rào cản ngăn không cho xâm nhập ngành bao gồm: lợi kích kinh tế theo quy mô, những khác biệt với sản phẩm độc quyền, nhận biết thương hiệu, các chi phí chuyển đổi, mức vốn đầu tư cần có, khả năng tiếp cận kênh phân phối, lợi thế chi phí tuyệt đối, khả năng tiếp cận những yếu tố đầu vào cần có, thiết kế sản phẩm chi phí thấp độc quyền, quy định của chính phủ… Áp lực từ nhà cung cấp: những yếu tố quyết định sức mạnh của nhà cung cấp bao gồm: khác biệt hóa các yếu tố đầu vào, chi phí chuyển đổi của nhà cung cấp và các doanh nghiệp trong ngành, sự xuất hiện của các yếu tố đầu vào thay thế, sự tập trung của nhà cung cấp, mức quan trọng của sản lượng đối với nhà cung cấp, chi phí tương đối so với tổng số các yếu tố thu mua đầu vào trong ngành, ảnh hưởng của yếu tố đầu vào đến chi phí hoặc khác biệt hóa.
Áp lực từ người mua: những yếu tố quyết định năng lực đàm phán của người mua có thể chia thành 2 nhóm chính: 16 o Khả năng đàm phán: sự tập trung của người mua so với sự tập trung của doanh nghiệp, sản lượng của người mua, chi phí chuyển đổi của người mua tương đối so với chi phí của doanh nghiệp, thông tin của người mua, khả năng tích hợp “lùi”, sản phẩm thay thế. o Sự nhạy cảm với giá: giá/tổng mức giá thu mua, sản phẩm với sự khác biệt, nhận biết thương hiệu, ảnh hưởng đến chất lượng/ hiệu quả hoạt động, lợi nhuận của người mua, khuyến khích những người ra quyết định. Áp lực từ đối thủ cạnh tranh trong ngành: những yếu tố quyết định cạnh tranh trong ngành bao gồm: mức tăng trưởng của ngành, chi phí cố định/ giá trị công thêm, dư thừa năng lực sản xuất gián đoạn, những khác biệt trong sản phẩm, nhận biết thương hiệu, các chi phí chuyển đổi, sự tập trung và cân bằng, nắm bắt những thông tin phức tạp, tính đa dạng của các đối thủ cạnh tranhm lượng đầu tư của doanh nghiệp, những rào cản rời bỏ ngành. Áp lực từ sản phẩm thay thế: những yếu tố quyết định nguy cơ của sản phẩm thay thế bao gồm: giá tương đối của sản phẩm thay thế, các chi phí chuyển đổi, xu hướng của người mua trước sản phẩm thay thế.
Lợi thế cạnh tranh, trang 37) 1. Hoàn cảnh nội bộ - Chuỗi giá trị của doanh nghiệp Theo Michael E.Porter, một chuyên gia về chiến lược cạnh tranh cho rằng công cụ quan trọng để doanh nghiệp tạo ra giá trị lớn hơn cho khách hàng chính là chuỗi giá trị, đây là một tập hợp các hoạt động nhằm thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm cho doanh nghiệp. Chuỗi giá trị thể hiện tổng giá trị, bao gồm các hoạt động giá trị và lợi nhuận. Hoạt động giá trị là những hoạt động đặc trưng về phương diện vật lý và công nghệ của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là sự chênh lệch giữa tổng giá trị và tập hợp các chi phí cho việc thực hiện các hoạt động giá trị. Có thể khái quát chuỗi giá trị thông qua sơ đồ Hình 1-3. Chuỗi giá trị tổng quát của Michael E.Porter (Nguồn: Michael E. Lợi thế cạnh tranh, trang 75-77) 1.
Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Nguồn lực của doanh nghiệp có thể chia ra thành hai loại: hữu hình và vô hình o Nguồn lực hữu hình: bao gồm nguồn lực về tài chính và vật chất hữu hình.