Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ VÀ NĂNG LỰC CÁN BỘ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Vị trí và vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã trong hệ thống chính quyền bốn cấp ở nước ta hiện nay 1. Quan niệm về Ủy ban nhân dân cấp xã Thuật ngữ “chính quyền địa phương” đã được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp lý, cũng như các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta ở Trung ương và địa phương. Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua đã đổi tên gọi của cụm từ “Hội đồng nhân dân - HĐND và Ủy ban nhân dân - UBND” trong Chương IX, Hiến pháp năm 1992 thành “Chính quyền địa phương”.
Đây là sự thay đổi phù hợp với lịch sử lập hiến cũng như các văn bản khác của Đảng và Nhà nước ta. Theo đó, Hiến pháp năm 2013 đã quy định về Chính quyền địa phương cụ thể như sau: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định” [32, tr. Cùng với đó, tại Khoản 1, Điều 8, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định: “UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”.
Quy định này thể hiện ở hai nội dung sau: Một là, cơ quan chấp hành của HĐND: UBND do HĐND cùng cấp bầu tại kì họp đầu tiên ở mỗi khóa họp đầu tiên; là cơ quan chịu trách nhiệm chấp hành nghị quyết HĐND trên các lĩnh vực. Trong hoạt động của mình, 10 UBND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp. Hai là, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: UBND thực hiện chức năng quản lí nhà nước đối với các lĩnh vực hoạt động của địa phương theo Hiến pháp, các văn bản của các cơ quan hành chính cấp trên. Chức năng quản lí của UBND có đặc trưng: - Là chức năng cơ bản, quan trọng nhất của UBND; - Diễn ra theo phạm vi địa giới hành chính được phân cấp; - Mang tính thường xuyên, liên tục đáp ứng nhu cầu hàng ngày của tổ chức, cá nhân có liên quan.
Như vậy, từ các quy định đã nêu trên thì quan niệm về UBND cấp xã chúng ta có thể hiểu như sau: “UBND cấp xã là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, do HĐND cùng cấp bầu ra, chấp hành và chịu sự giám sát, báo cáo các hoạt động của mình trước HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính cấp trên. UBND cấp xã có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội và dân cư trên địa bàn”. Vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã trong hệ thống chính quyền bốn cấp ở nước ta hiện nay Theo Điều 110, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi): - Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường; 11 Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập. - Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định. - Chính quyền cấp xã tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên. - Chính quyền cấp xã gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Trong đó: Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
Như vậy, theo quy định của Hiến pháp 2013 và qua thực tiễn hoạt động có thể thấy UBND cấp xã là một bộ phận trong hệ thống chính quyền bốn cấp ở nước ta hiện nay. Theo đó, UBND cấp xã có vị trí và vai trò như sau: - Là nơi trực tiếp triển khai, tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. - Là cấp quản lý các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh tại địa bàn cơ sở. Hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong cả bộ máy Nhà nước.
- Là cấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát dân nhất, là cấp chính quyền giải quyết và chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân. - Là cấp hướng dẫn, giám sát các hoạt động tự quản của nhân dân nhằm tạo điều kiện cho nhân dân phát huy mọi khả năng phát triển kinh tế, xã hội. Đây 12 là đặc thù của UBND cấp xã so với các cấp chính quyền khác. - Là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
UBND cấp xã là cấp trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho nhân dân hiểu và thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật đó; và UBND xã là cấp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân để phản ánh với cấp liên quan. - Chính vì cấp xã là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục tập quán tiến bộ của dân tộc Việt Nam cho nên UBND cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng đời sống văn hóa mới, đặc biệt là ở vùng nông thôn. - UBND cấp xã còn là bộ máy mang tính quyền lực Nhà nước điều hành, quản lý hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh tại địa bàn cơ sở. Cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã 1.
Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cán bộ Từ “Cán bộ” được du nhập vào nước ta từ Trung Quốc và được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến, dùng để phân biệt với nhân dân. Nghĩa của từ cán bộ tựu chung có hai nghĩa chủ yếu: Thứ nhất là cái khung, cái khuôn; nghĩa thứ hai là người nòng cốt, người chỉ huy. Trong một thời gian dài, ở nước ta từ cán bộ gần như được dùng thay thế cho từ công chức.
Trong Từ điển Tiếng Việt, khái niệm cán bộ được hiểu như sau: 1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước; 2. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ. Vì là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống chính trị cho nên thuật ngữ “cán bộ” đã được đưa vào trong các văn bản luật của Việt Nam.
13 Khoản 1, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức quy định: “cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ. Khái niệm cán bộ UBND cấp xã Từ quy định chung nêu trên, Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 tiếp tục cụ thể hóa khái niệm cán bộ UBND cấp xã.
Theo đó: “cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”. Theo Điều 61, Chương V, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định “Chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã”: 1. Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã. Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt 14 động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Như vậy, theo quy định thì cán bộ UBND cấp xã gồm có các chức danh Chủ tịch UBND xã và Phó Chủ tịch UBND xã.