Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên (VTN&TN) là một trong những vấn đề y tế công cộng trọng điểm tại Việt Nam. Theo Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY), tỷ lệ thanh thiếu niên chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân có xu hướng gia tăng, đạt 44%. Cùng với đó, báo cáo năm 2010 của Bác sĩ Đào Xuân Dũng chỉ ra Việt Nam nằm trong nhóm 3 quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó nhóm tuổi vị thành niên chiếm 20%; tỷ lệ nữ giới sinh con trước 18 tuổi là 5% và trước 20 tuổi là 15%. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc thanh niên chưa hoàn thiện về mặt tâm lý, thiếu hụt hoặc hiểu sai lệch các kiến thức và thái độ liên quan đến sức khỏe sinh sản cùng các biện pháp tránh thai (BPTT). Khảo sát của Nguyễn Thanh Phong tại 6 trường Đại học và Cao đẳng ở Hà Nội ghi nhận tỷ lệ sinh viên có kiến thức và thái độ tốt về BPTT chỉ đạt 10,1%.
Trường Đại học Y Hà Nội là cơ sở trọng điểm quốc gia đào tạo Cử nhân Điều dưỡng chuẩn năng lực. Trong hệ thống y tế tương lai, điều dưỡng viên giữ vai trò chủ lực trong công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe và phổ biến kiến thức chính xác về sức khỏe sinh sản cho cộng đồng nhằm giảm thiểu tình trạng mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn. Tuy nhiên, trước thời điểm năm 2023, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện về kiến thức và thái độ đối với các BPTT trên đối tượng sinh viên Điều dưỡng năm cuối tại trường.
Đề tài "Kiến thức, thái độ về các biện pháp tránh thai của sinh viên Y4 Điều Dưỡng Trường Đại Học Y Hà Nội" do sinh viên Nguyễn Thị Thi thực hiện dưới sự hướng dẫn của BS.CKII Nguyễn Duy Hưng nhằm giải quyết hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả kiến thức, thái độ về các BPTT của sinh viên Y4 Điều dưỡng Trường Đại học Y Hà Nội năm 2023.
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về các BPTT của sinh viên Y4 Điều dưỡng Trường Đại học Y Hà Nội năm 2023.
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ sinh viên Điều dưỡng hệ chính quy năm thứ tư (Y4) đang học tập tại Trường Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu được triển khai tại khuôn viên Trường Đại học Y Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 đến tháng 04/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên phân loại lâm sàng và thực hành y khoa về các BPTT, bao gồm:
- BPTT truyền thống (tự nhiên): Xuất tinh ngoài âm đạo, kiêng giao hợp định kỳ (tính ngày rụng trứng theo vòng kinh, theo dõi chất nhầy cổ tử cung, đo thân nhiệt cơ bản).
- BPTT hiện đại: Bao cao su (nam, nữ), dụng cụ tử cung (DCTC), các dạng thuốc tránh thai nội tiết (viên thuốc tránh thai khẩn cấp chứa Levonorgestrel hoặc phối hợp; viên uống tránh thai kết hợp 21 hoặc 28 viên; viên uống chỉ chứa Progestin; thuốc tiêm tránh thai; que cấy tránh thai), triệt sản nam (thắt và cắt ống dẫn tinh) và triệt sản nữ (thắt và cắt vòi tử cung).
- Các BPTT khác: Miếng dán tránh thai (MDTT), màng phim/chất diệt tinh trùng.
Khóa luận sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study). Toàn bộ sinh viên Y4 Điều dưỡng chính quy đáp ứng tiêu chuẩn được mời tham gia, thu được cỡ mẫu thực tế $n = 105$.
Phương pháp thu thập số liệu sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc phát trực tuyến qua nền tảng Google Form, kế thừa và hiệu chỉnh từ bộ công cụ khảo sát của tác giả Nguyễn Thanh Phong. Thang điểm đánh giá được quy chuẩn như sau:
| Hạng mục đánh giá |
Số lượng câu hỏi |
Thang đo áp dụng |
Điểm tối đa |
Điểm cắt Đạt / Tích cực ($\ge 80%$) |
Điểm cắt Chưa đạt / Chưa tích cực ($< 80%$) |
| Kiến thức về BPTT |
36 câu |
Tiêu chuẩn Bloom (Đúng = 1, Sai/Không biết = 0) |
72 điểm |
$\ge 57,6$ điểm |
$< 57,6$ điểm |
| Thái độ về BPTT |
23 câu |
Thang đo Likert 5 mức độ (1: Rất đồng ý $\rightarrow$ 5: Rất không đồng ý) |
115 điểm |
$\ge 92,0$ điểm |
$< 92,0$ điểm |
Dữ liệu được làm sạch, mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS 20. Khóa luận sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) để trình bày biến số; kiểm định Chi-square ($\chi^2$) hoặc Fisher's Exact Test để so sánh tỷ lệ giữa các phân nhóm độc lập. Phân tích hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logistic Regression) được thiết lập để xác định và kiểm soát các yếu tố gây nhiễu đối với những biến có $p < 0,05$ ở phân tích đơn biến. Mọi kiểm định thống kê đều lấy ngưỡng ý nghĩa $p < 0,05$ với khoảng tin cậy (CI) 95%. Nghiên cứu tuân thủ đạo đức y sinh học: sinh viên tham gia hoàn toàn tự nguyện, được giải thích rõ mục đích và thông tin cá nhân được bảo mật tuyệt đối.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa cơ chế sinh lý, ưu điểm, nhược điểm và hiệu quả của từng BPTT. BPTT truyền thống có hiệu quả tránh thai thấp (khoảng 70%), đòi hỏi sự phối hợp cao nhưng không ngăn được bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) và HIV/AIDS. Nhóm BPTT hiện đại có hiệu quả tránh thai vượt trội: bao cao su giúp phòng tránh đồng thời thai nghén và STDs; DCTC có tác dụng 5–10 năm; que cấy đạt hiệu quả 99% trong năm đầu; thuốc tiêm đạt 99,6%; triệt sản nam/nữ đạt $> 99%$.
Về tổng quan y văn, tác giả điểm lại các báo cáo của UNFPA, UNESCO, WHO tại 32 nước Châu Á – Thái Bình Dương, nghiên cứu tại Ethiopia (Tamire và Enqueselassie: 43,5% sinh viên nghe nói về BPTT khẩn cấp, 53% có thái độ tích cực) và Nigeria (tại Kano: 87% biết BPTT, 98% biết bao cao su). Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Trương Thị Thúy Hạnh (2009), Nguyễn Thanh Phong và Hoàng Thị Bắc (2020) cho thấy sinh viên có tỷ lệ nhận biết tên gọi BPTT cao ($> 90%$) nhưng kiến thức thực hành đúng và thái độ tích cực còn thấp. Chương này cũng phân tích 4 nhóm yếu tố thường liên quan đến kiến thức và thái độ theo y văn: nhóm tuổi ($> 20$ tuổi thường có kiến thức cao gấp 2,6–3,9 lần), giới tính, nơi cư trú (khu vực thành thị cao hơn nông thôn 51%), và tình trạng có người yêu (kiến thức/thái độ cao gấp 1,5–1,6 lần).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 105 sinh viên Y4 Điều dưỡng từ tháng 01/2023 đến tháng 04/2023. Tác giả trình bày cấu trúc bộ công cụ khảo sát gồm 36 câu hỏi kiến thức (chia theo các nhóm BPTT khẩn cấp, bao cao su, thuốc tránh thai hàng ngày) và 23 câu hỏi thái độ theo thang đo Likert. Các giải pháp kiểm soát sai số bao gồm: mã hóa trước phương án trả lời, kế thừa bộ công cụ đã chuẩn hóa, thử nghiệm hiệu chỉnh cho sinh viên y khoa và kiểm tra làm sạch dữ liệu trước khi nhập vào SPSS 20. Khung phân tích thống kê xác định rõ việc sử dụng kiểm định $\chi^2$, Fisher's Exact Test và mô hình Binary Logistic Regression.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết quả khảo sát trên 105 sinh viên Y4 Điều dưỡng ghi nhận các đặc điểm dịch tễ và chỉ số chuyên môn:
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Độ tuổi và giới tính: Tuổi trung bình là 22 tuổi; sinh năm 2001 chiếm 89,5%, sinh năm 2000 chiếm 8,8% (tương đương 9,5% tính theo nhóm tuổi $>22$), sinh năm 1997 chiếm 1,7% (1,0%). Nữ giới chiếm 94,3% (99 sinh viên), nam giới chiếm 5,7% (6 sinh viên).
- Quê quán và nơi ở: 81,9% (86 sinh viên) đến từ các tỉnh khác, 18,1% (19 sinh viên) có quê quán tại Hà Nội. Về nơi ở hiện tại: 44,7% ở cùng bạn bè, 27,6% ở ký túc xá, 20,9% ở cùng gia đình, 5,7% ở một mình và 1,0% ở cùng người yêu.
- Dân tộc và tình trạng quan hệ: Dân tộc Kinh chiếm 91,4% (96 sinh viên), dân tộc khác chiếm 8,6% (9 sinh viên). Có 38,2% (40 sinh viên) đang có người yêu, 16,2% (17 sinh viên) đã từng có người yêu và 45,7% (48 sinh viên) chưa từng có người yêu.
ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC & QUAN HỆ CỦA ĐỐI TƯỢNG (n=105)
Thực trạng kiến thức về các BPTT
- Khả năng nhận biết: 100% sinh viên biết ít nhất 1 BPTT. Số BPTT trung bình sinh viên nhận biết là 5,92 biện pháp. Tỷ lệ nhận biết từng biện pháp: Bao cao su (100%), Viên thuốc tránh thai (99,0%), Dụng cụ tử cung (98,1%), Xuất tinh ngoài âm đạo (93,3%), Tính vòng kinh (86,7%), Triệt sản (79,0%), Thuốc diệt tinh trùng (38,1%).
- Kiến thức chung: 97,1% biết cần dùng BPTT cho mọi lần quan hệ tình dục (QHTD) không muốn có thai. 97,1% nhận thức được hậu quả dùng sai BPTT là mắc STDs; 95,2% nhận biết nguy cơ có thai ngoài ý muốn; 86,7% nhận biết viêm nhiễm sinh dục; 82,9% nhận biết nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS.
- Kiến thức về BPTT khẩn cấp: 100% sinh viên biết BPTT khẩn cấp. 100% biết viên thuốc tránh thai khẩn cấp, 66,7% biết thuốc tránh thai kết hợp và 35,2% biết DCTC có thể dùng tránh thai khẩn cấp. 100% biết thuốc khẩn cấp không phòng ngừa được STDs; 92,4% biết không dùng khi đã có thai; 81,0% biết nên hạn chế tối đa việc sử dụng. Tuy nhiên, chỉ có 9,5% sinh viên biết chính xác "thời điểm vàng" sử dụng là càng sớm càng tốt trong vòng 120 giờ sau QHTD không an toàn.
- Kiến thức về bao cao su: 100% biết bao cao su nam, 85,7% biết bao cao su nữ. 96,2% xác định đúng thời điểm mang bao cao su là trước khi đưa dương vật vào âm đạo. 90,5% biết xử trí dùng BPTT khẩn cấp và 63,8% biết vệ sinh bộ phận sinh dục khi bao cao su bị rách. 100% nhận biết tác dụng phụ dị ứng, 97,1% biết nguy cơ tuột/rách, 88,6% biết có thể làm giảm khoái cảm.
- Kiến thức về thuốc tránh thai hàng ngày: 100% sinh viên biết về thuốc tránh thai hàng ngày. 69,5% biết cách uống 1 viên/ngày vào giờ nhất định; 94,3% biết thuốc không phòng ngừa được STDs. Tuy nhiên, chỉ có 26,7% sinh viên biết đúng thời điểm bắt đầu dùng thuốc là trong vòng 5 ngày đầu của chu kỳ kinh nguyệt.
- Đánh giá mức độ kiến thức chung: Tỷ lệ sinh viên có kiến thức Đạt ($\ge 80%$ điểm) là 48,0% (50 sinh viên), tỷ lệ Chưa đạt là 52,0% (55 sinh viên).
Thực trạng thái độ về các BPTT
- Thái độ chung: 26,7% rất đồng ý với nhận định "Không có BPTT nào hiệu quả tuyệt đối"; 48,6% rất đồng ý "VTN&TN cần phải được trang bị kiến thức về các BPTT"; 35,2% rất đồng ý "Sử dụng BPTT an toàn là sự lựa chọn tốt nhất cho VTN&TN có QHTD". Có 27,6% rất không đồng ý với quan điểm "Mang BPTT theo người là một việc xấu"; 44,8% rất không đồng ý quan điểm "Sử dụng BPTT khi QHTD sẽ không chứng tỏ được tình yêu đích thực".
- Thái độ với bao cao su: 85,7% đồng ý và rất đồng ý (trong đó 15,2% rất đồng ý) rằng bao cao su là lựa chọn tốt nhất cho VTN&TN; 38,1% rất không đồng ý quan điểm "BCS chỉ dành cho người mua bán dâm và không chung thủy"; 16,2% rất không đồng ý rằng bản thân sẽ xấu hổ nếu phải đi mua bao cao su.
- Thái độ với thuốc tránh thai hàng ngày và khẩn cấp: 35,3% đồng ý/rất đồng ý thuốc hàng ngày là lựa chọn tốt cho VTN&TN có QHTD. Đáng chú ý, có 21,0% đồng ý và 42,9% phân vân không chắc chắn trước nhận định sai lầm "Dùng thuốc tránh thai hàng ngày sẽ làm giảm khả năng sinh con" (chỉ 7,6% rất không đồng ý). Với thuốc khẩn cấp: 74,3% đồng ý/rất đồng ý rằng lạm dụng thuốc khẩn cấp thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh con; 40,0% rất không đồng ý việc xem thuốc khẩn cấp là lựa chọn tối ưu cho thanh niên có QHTD.
- Đánh giá mức độ thái độ chung: Tỷ lệ sinh viên có thái độ Tích cực ($\ge 80%$ điểm) chỉ đạt 25,0% (26 sinh viên), trong khi 75,0% (79 sinh viên) có thái độ Chưa tích cực.
Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ
Khảo sát phân tích mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với các đặc tính nhân khẩu học:
| Biến số nhân khẩu học |
Tỷ lệ Kiến thức Đạt |
Tỷ lệ Thái độ Tích cực |
Giá trị $p$ (Kiến thức / Thái độ) |
| Nhóm tuổi (22 tuổi so với $> 22$ tuổi) |
$44,7%$ so với $72,7%$ |
$27,7%$ so với $0,0%$ |
$p > 0,05$ / $p > 0,05$ |
| Giới tính (Nữ so với Nam) |
$48,5%$ so với $33,3%$ |
$26,3%$ so với $0,0%$ |
$p > 0,05$ / $p > 0,05$ |
| Quê quán (Hà Nội so với Tỉnh khác) |
$57,9%$ so với $45,3%$ |
$21,1%$ so với $25,6%$ |
$p > 0,05$ / $p > 0,05$ |
| Nơi ở (Cùng bạn bè so với Khác) |
$42,6%$ so với $51,7%$ |
$23,4%$ so với $25,9%$ |
$p > 0,05$ / $p > 0,05$ |
| Dân tộc (Kinh so với Dân tộc khác) |
$46,9%$ so với $55,6%$ |
$25,0%$ so với $22,2%$ |
$p > 0,05$ / $p > 0,05$ |
| Tình trạng có người yêu (Có/Đã từng so với Chưa) |
$52,6%$ so với $41,7%$ |
$22,8%$ so với $27,1%$ |
$p > 0,05$ / $p > 0,05$ |
Tất cả các so sánh đơn biến và hồi quy đa biến đều cho giá trị $p > 0,05$. Nghiên cứu đi đến khẳng định: Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố tuổi, giới tính, quê quán, nơi ở, dân tộc hay tình trạng quan hệ tình cảm với mức độ kiến thức và thái độ về BPTT của sinh viên Y4 Điều dưỡng.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 đối chiếu kết quả nghiên cứu với các công trình công bố trước đây:
- Về kiến thức: Tỷ lệ sinh viên biết ít nhất 1 BPTT (100%) tương đồng với nghiên cứu của Hoàng Thị Bắc (99,8%) và Nguyễn Thanh Phong (93,4%). Tỷ lệ kiến thức chung đạt chuẩn (48,0%) cao hơn rõ rệt so với sinh viên các trường ngoài ngành Y (Nguyễn Thanh Phong: 10,1%; Hoàng Thị Bắc: 29,8%). Điều này phản ánh ưu thế tiếp cận khối kiến thức giải phẫu, sinh lý và sản phụ khoa của sinh viên y khoa. Tuy nhiên, mức 48% vẫn chưa tương xứng với yêu cầu năng lực của nhân viên y tế chuẩn bị tốt nghiệp. Điểm yếu lớn nằm ở kiến thức thực hành kỹ thuật: tỷ lệ biết khung thời gian 120 giờ của thuốc khẩn cấp chỉ đạt 9,5% và thời điểm bắt đầu uống thuốc hàng ngày chỉ đạt 26,7%.
- Về thái độ: Tỷ lệ thái độ tích cực đạt 25,0% (cao hơn mức 10,5% của Nguyễn Thanh Phong nhưng thấp hơn mức 43,7% của Hoàng Thị Bắc). Sinh viên vẫn còn tâm lý e ngại văn hóa khi mua phương tiện tránh thai trực tiếp, đồng thời còn tỷ lệ đáng kể sinh viên hiểu sai về nguy cơ vô sinh của thuốc tránh thai hàng ngày.
- Về các yếu tố liên quan: Khác với các nghiên cứu của Hoàng Thị Bắc hay Dương Hồng Phúc (vốn chỉ ra nam giới hiểu rõ về bao cao su hơn nữ, hoặc người có người yêu có kiến thức cao gấp 1,5 lần), nghiên cứu này không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê. Tác giả lý giải nguyên nhân xuất phát từ tính đồng nhất cao của quần thể nghiên cứu: sinh viên cùng học năm thứ 4 chuyên ngành Điều dưỡng, đa số thuần nhất về lứa tuổi (sinh năm 2001 chiếm 89,5%) và cơ cấu mẫu có sự chênh lệch lớn về giới (nữ chiếm 94,3%).
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
Khóa luận đã định lượng hóa bức tranh toàn cảnh về nhận thức chuyên môn của sinh viên Y4 Điều dưỡng Trường Đại học Y Hà Nội qua hệ thống dữ liệu thực nghiệm:
- $100%$ sinh viên nhận biết được các BPTT cơ bản, số BPTT nhận biết trung bình là 5,92 biện pháp.
- Tỷ lệ sinh viên đạt chuẩn kiến thức chung theo tiêu chuẩn Bloom ($\ge 80%$ điểm) là $48,0%$; tỷ lệ chưa đạt là $52,0%$.
- Tỷ lệ sinh viên có thái độ tích cực theo thang đo Likert ($\ge 80%$ điểm) là $25,0%$; tỷ lệ chưa tích cực là $75,0%$.
- Tồn tại khoảng trống lớn về kiến thức sử dụng chi tiết: chỉ có $9,5%$ sinh viên biết đúng khung giờ 120 giờ đối với BPTT khẩn cấp và $26,7%$ biết mốc 5 ngày đầu chu kỳ đối với thuốc tránh thai hàng ngày.
- Khẳng định không có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$) giữa tuổi, giới tính, quê quán, nơi cư trú, dân tộc và tình trạng quan hệ tình cảm với kiến thức hay thái độ về BPTT.
Giải pháp và kiến nghị
Căn cứ trên các bằng chứng thu được, tác giả đề xuất:
- Khoa Điều dưỡng – Hộ sinh và Nhà trường cần sử dụng kết quả này để xây dựng các chương trình can thiệp, tập huấn kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe sinh sản chuyên sâu cho sinh viên trước khi tốt nghiệp.
- Cải tiến nội dung giảng dạy, chú trọng vào các kỹ năng tư vấn lâm sàng thực tế, giải tỏa các định kiến sai lầm về tác dụng phụ của thuốc tránh thai nội tiết, thay vì chỉ dừng lại ở lý thuyết nhận diện tên gọi biện pháp.
Đóng góp học thuật
Đây là công trình nghiên cứu tiên phong khảo sát chuyên biệt trên đối tượng sinh viên Cử nhân Điều dưỡng năm cuối tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2023. Đề tài cung cấp số liệu thực chứng làm cơ sở đối sánh cho các nghiên cứu tiếp theo về giáo dục sức khỏe sinh sản trong khối trường đại học khoa học sức khỏe.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Quy mô và cơ cấu mẫu: Nghiên cứu thực hiện trên cỡ mẫu $n = 105$ tại một khoa chuyên ngành, cơ cấu giới tính có sự mất cân đối tự nhiên (nữ chiếm 94,3%) và độ tuổi tập trung cao (89,5% là 22 tuổi), dẫn đến việc khó phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các phân nhóm nhân khẩu học.
- Phương pháp thu thập: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang chỉ phản ánh thực trạng tại một thời điểm nhất định. Việc thu thập dữ liệu qua phiếu tự điền trực tuyến (Google Form) có thể tiềm ẩn sai số thông tin hoặc sai số nhớ lại từ phía người tham gia.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra:
- Mở rộng quy mô khảo sát trên nhiều chuyên ngành đào tạo khác nhau thuộc khối trường Y – Dược và các khóa học từ Y1 đến Y6 để đánh giá sự phát triển nhận thức theo tiến trình đào tạo.
- Triển khai các nghiên cứu can thiệp giáo dục có đối chứng nhằm đo lường hiệu quả thực tế của các mô hình truyền thông sức khỏe sinh sản đối với việc cải thiện kiến thức và thay đổi thái độ của sinh viên y khoa.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên ngành Điều dưỡng, Y đa khoa và Y tế công cộng: Tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trong y tế, cách xây dựng và vận dụng thang điểm Bloom, thang đo Likert trong lượng giá nhận thức lâm sàng.
- Cán bộ quản lý đào tạo và giảng viên y khoa: Sử dụng dữ liệu thực chứng để đánh giá khoảng cách giữa chương trình đào tạo lý thuyết và năng lực tư vấn thực hành của sinh viên, từ đó hiệu chỉnh khung chương trình thực tập tiền lâm sàng.
- Học viên nghiên cứu sức khỏe vị thành niên – thanh niên: Kế thừa bộ công cụ câu hỏi khảo sát chuyên biệt về sức khỏe sinh sản và các BPTT đã được chuẩn hóa.
Phần đáng tham khảo nhất của khóa luận là hệ thống bảng phân tích chi tiết về kiến thức sử dụng từng loại BPTT (viên khẩn cấp, bao cao su, thuốc hàng ngày) tại Chương 3, nơi bộc lộ rõ những lỗ hổng kỹ thuật sử dụng thuốc dù tỷ lệ nhận biết tên thuốc đạt tuyệt đối 100%.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ sinh viên Y4 Điều dưỡng đạt kiến thức tốt và có thái độ tích cực về các BPTT trong khóa luận là bao nhiêu?
Theo thang đánh giá Bloom với điểm cắt $80%$ ($\ge 57,6/72$ điểm), tỷ lệ sinh viên có kiến thức đạt là $48,0%$ (50 sinh viên), tỷ lệ chưa đạt là $52,0%$ (55 sinh viên). Theo thang đo Likert với điểm cắt $80%$ ($\ge 92/115$ điểm), tỷ lệ sinh viên có thái độ tích cực chỉ đạt $25,0%$ (26 sinh viên), trong khi tỷ lệ chưa tích cực chiếm $75,0%$ (79 sinh viên).
2. Sinh viên tham gia nghiên cứu nắm đúng hay sai về "thời điểm vàng" sử dụng viên thuốc tránh thai khẩn cấp?
Mặc dù $100%$ sinh viên nhận biết được viên thuốc tránh thai khẩn cấp, chỉ có $9,5%$ sinh viên trả lời đúng thời điểm sử dụng là "càng sớm càng tốt trong vòng 120 giờ sau QHTD không được bảo vệ". Đa số sinh viên nắm các mốc thời gian không chính xác hoặc chưa tối ưu.
3. Khóa luận ghi nhận nhận thức của sinh viên về bao cao su như thế nào?
$100%$ sinh viên biết đến bao cao su nam và $85,7%$ biết bao cao su nữ. Về thực hành đúng: $96,2%$ biết thời điểm mang bao cao su là trước khi đưa dương vật vào âm đạo; $90,5%$ biết xử trí dùng BPTT khẩn cấp nếu bao cao su bị rách. Tuy nhiên, chỉ có $50,5%$ sinh viên đánh giá bao cao su ở mức độ "Rất an toàn" và $88,6%$ đánh giá "Hiệu quả cao".
4. Có yếu tố nhân khẩu học nào (tuổi, giới tính, quê quán, tình trạng người yêu) liên quan đến kiến thức và thái độ của sinh viên không?
Không. Kết quả phân tích thống kê qua kiểm định Chi-square, Fisher's Exact và hồi quy Logistic đều cho giá trị $p > 0,05$. Không có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê giữa độ tuổi, giới tính, quê quán, nơi ở, dân tộc hay việc có người yêu với mức độ kiến thức và thái độ của nhóm sinh viên nghiên cứu.
5. Sinh viên có những hiểu lầm phổ biến nào về viên thuốc tránh thai hàng ngày?
Khảo sát ghi nhận có $21,0%$ sinh viên đồng ý và $42,9%$ không chắc chắn trước nhận định "Sử dụng viên thuốc tránh thai hàng ngày sẽ làm giảm khả năng sinh con" (chỉ có $7,6%$ rất không đồng ý). Ngoài ra, chỉ có $26,7%$ sinh viên biết đúng thời điểm bắt đầu uống thuốc là trong vòng 5 ngày đầu của chu kỳ kinh nguyệt.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thi đã phản ánh khách quan thực trạng nhận thức về các BPTT của 105 sinh viên Y4 Điều dưỡng Trường Đại học Y Hà Nội năm 2023. Kết quả chỉ ra rằng dù $100%$ sinh viên nhận biết được các BPTT thông dụng, tỷ lệ đạt chuẩn kiến thức chỉ đạt $48,0%$ và tỷ lệ thái độ tích cực dừng lại ở mức $25,0%$, đồng thời không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê với các yếu tố nhân khẩu học. Công trình là nguồn cứ liệu thực chứng quan trọng, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các cơ sở đào tạo y khoa trong việc nâng cao kỹ năng thực hành và định hướng thái độ tư vấn sức khỏe sinh sản chuyên sâu cho nhân lực điều dưỡng tương lai.