MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Ở nước ta hiện nay có khoảng 50% dân số ở dưới độ tuổi 20, trong số đó 20% ở độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi. Việt Nam hiện nay cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn dé liên quan đến SKSSVTN như có thai ngoài ý muốn, tình trạng nạo phá thai cao ở lứa tuổi VTN, nạn bỏ học, tệ nạn ma túy, các vấn để về sức khỏe tình dục và SKSS kể cả các bệnh lây lan qua đường sinh dục và HIV/AIDS.Riêng tốc độ nhiễm HIV/AIDS đang tăng nhanh chóng tới mức báo động, 50% số người nhiễm HIV là ở lứa tuổi thanh niên, trong đó 14% là dưới 15 tuổi. Theo dự báo của UNAIDS, trong vòng một năm tới cứ 300 người Việt Nam sẽ có một người nhiễm HIV.
Nguyên nhân của các tệ nạn trên là do VTN còn thiếu kiến thức về SKSS, bao gồm cả sự thiếu hiểu biết về HỊV/AIDS.Ngoài ra, các nguy cơ có thai ở tuổi VTN do quan hệ tình dục trước hôn nhân và nguy cơ nghiện ngập cũng đang tăng lên. Tình hình trên cho thấy sự cần thiết phải nhanh chóng tiến hành tốt công tác giáo đục dân số và GDSKSS cho VTN ở nước ta. Chúng ta biết rằng thời kỳ VTN là một thời kỳ có nhiều biến đổi và có tính chất quyết định trong việc hình thành nhân cách con người. VTN bắt đầu trưởng thành về cơ thể, tâm lý, tình cảm và tinh thần.
Họ bắt đầu có những thắc mắc về những thay đổi xảy ra trong cơ thể mình; trong khi đó, ho lại không được thông tin day đủ và họ thường chỉ cảm thấy thoải mái khi nói chuyện với bạn bè. Tuy nhiên, vấn dé ở đây là bạn bè họ không phải lúc nào cũng cung cấp được những thông tin đúng đấn. Cần thấy rằng vấn để SKSSVTN không đơn thuần chỉ là vấn để sức khỏe, y tế mà nó còn phụ thuộc vào các giá trị văn hóa, tôn giáo của từng nước. Thế nên, việc thông tin, giáo dục SKSS cho VTN cẩn có mô hình giáo dục, dịch vụ tiếp cận thích hợp với đối tượng.
Ngày nay, do những yêu cầu cấp thiết của xã hội đòi hỏi mỗi chúng ta không ngừng hoàn thiện và nâng cao tri thức nên thời gian học tập lâu hơn; đồng thời việc cải thiện trọng nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe dẫn đến sự dậy thì sớm hơn. Do đó, rất nhiều thanh niên có khoảng thời gian dài từ lúc dậy thì đến khi kết hôn. Chính vì thế, chúng ta can quan tâm hơn đến các em ở lứa tuổi tiền dậy thì để có định hướng tốt ngay từ đầu cho sự phát triển lành mạnh của các em. Lênin đã nói: “ Nhân cách không chỉ là thế giới tỉnh thần mà còn là thế giới thể chất của con người.
Sức khỏe của con người phải được hiểu nó bao gồm cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần. Nền giáo dục có mục tiêu là phát triển nhân cách toàn diện, sẽ không chỉ giáo dục sức khỏe qua các môn thể dục mà quan trọng hơn là hình thành cho thế hệ trẻ sức khỏe tinh thần qua việc huấn luyện, giáo dục con người có lối sống cao đẹp, có ý thức rèn luyện và bảo vệ thân thể, có ý thức trách nhiệm tự chăm lo sức khỏe của mình, có sự lành mạnh trong tình cảm đạo đức và nghĩa vụ đối với xã hội”. Xuất phát từ tinh than trên, tới quyết định chọn dé tài: Tìm hiểu thực trạng giảng dạy các chủ dé “nhạy cảm” về SKSSVTN, thông qua chương trình Sinh Lugn năn tốt nghiệp GORD: 27a. Lé C7hị Minh học lớp 9 ở một số trường THCS thuộc quận Tân Binh- TPHCM, với mong ước qua thực trạng này sẽ để xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao GDSKSS cho VTN.
Mục đích nghiên cứu: : Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm tim hiểu: ~ Thực trạng giảng dạy của thầy cô ở các trường THCS quận Tân Bình - TPHCM về các chủ để “nhạy cảm” liên quan đến SKSSVTN, thông qua chương trình Sinh học lớp 9. — Nhận thức, thái độ và nhu cầu lĩnh hội của hoc sinh về các nội dung cơ bản của GDSSVTN. Từ đó để ra các giải pháp, kiến nghị hợp lý nhằm giúp cho việc giảng dạy các chủ để "nhạy cảm” về SKSSVTN ở các trường THCS nói chung và ở các trường THCS quận Tân Bình-TPHCM nói riêng đạt kết quả tốt. Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 3.1 Khách thể nghiên cứu: Vấn để giáo dục các chủ để “nhạy cảm” về SKSSVTN trong nhà trường thông qua chương trình Sinh học lớp9.2 Đối tượng nguyên cứu: = Học sinh lớp 9 ở các cụm trường của quận Tân Bình -TPHCM.
* Cụm I: THCS Ngô Sỹ Liên, Nguyễn Gia Thiểu và Quang Trung « Cụm II: THCS Đặng Trần Côn, Trần Văn Đang va Võ Văn Tan. * Cum III: THCS BC Tân Bình, Phan Bội Châu và Phạm Ngọc Thạch. ~ Tham khảo ý kiến của các thay cô giảng dạy bộ môn Sinh học lớp 9 ở các trường THCS quận Tân Bình - TPHCM. 4 Nhiệm vụ nghiên cứu: ‘ 4.1 Nghiên cứu những vấn dé lý luận liên quan đến GDSKSSVTN trong nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng.
42 Tim hiểu thực trạng giảng dạy của các giáo viên ở các chủ dé “nhạy cảm" về SKSSVTN thông qua chương trình Sinh học lớp 9.3 Tìm hiểu nhận thức, thái độ và nhu câu lĩnh hội của HS về các nội dung cơ bản của GDSKSSVTN. 44 Xác định và thử nghiệm phương pháp giảng dạy các chủ dé “nhạy cằm” về SKSSVTN cho học sinh các trường THCS quận Tân Bình - TPHCM. Một số kết luận và giải pháp đề xuất để việc giảng dạy các chủ dé trên đạt kết quả cao. 5 Phương pháp nghiên cứu: 5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống những vấn dé lý luận có liên quan đến nhiệm vụ của dé tài qua nguồn tài liệu và sách báo.2 Phuong pháp điều tra xã hội học: Dùng phương pháp điều tra bằng (Anket) để tìm hiểu nhận thức, thái độ và nhu cầu lĩnh hội của HS lớp 9 thuộc các trường THCS quận Tân Bình - TPHCM về các nội dung cơ bản của GDSKSSVTN.Hệ thống câu hỏi bao gồm các nội dung cơ bản về GDSKSSVTN và các biện pháp GDSKSSVTN cho học sinh THCS.
Câu hỏi có câu hỏi kín (nhằm đo mức độ nhận thức chính xác của học sinh) và “thuận odn tốt nghi¢g 40207): Gi. Lé Thi Minh câu hỏi mở (nhằm nắm được những ý kiến thật khách quan của học sinh trước vấn dé đặt ra).Cách tiến hành: in phiếu sẵn, phát cho học sinh, yêu cầu các em trả lời nghiêm tác và đây đả.3 Phương pháp thực nghiệm: Người nghiên cứu tiến hành thử nghiệm phương pháp giảng day các chủ dé “nhạy cảm "về SKSSVTN để kiểm định tính khả thi, hiệu qua của chúng.4 Phương pháp trò chuyện: Trao đổi tự nhiên, cởi mở với học sinh và giáo viên thuộc các trường THCS quận Tân Bình - TPHCM về các vấn dé cần nghiên cứu.5 Phương pháp lấy ý kiến giáo viên: Thông qua phiếu xin ý kiến vừa để tìm hiểu được thực trạng giảng dạy của thây cô, vừa xin được các ý kiến quý báu đóng góp cho vấn dé cần nghiên cứu .6 Phương pháp thống kê toán học sử dụng trong nghiên cứu khoa học. 6 Giới hạn đề tài: Dé tài chỉ tìm hiểu thực trạng giảng dạy của giáo viên ở các chủ dé "nhạy cam” về SKSSVTN thông qua chương Sinh học lớp 9; tìmhiểu nhận thức, thái độ và nhu cầu lĩnh hội của học sinh về nội dung cơ bản GDSKSSVTN và những biện pháp GDSKSSVTN cho hoc sinh ở các trường THCS quận Tân Bình - TPHCM. ` PHẦN TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Vài nét về lịch sử vấn đề GDSKSSVTN: Ở nhiều nước trên thế giới và ở khu vực châu Á_ Thái Bình Dương, ngành giáo dục kể cả giáo dục chính qui và không chính qui đều đã thực hiện GDDS, giáo dục đời sống gia đình, giáo dục giới tính ở các bậc học và ở các loại hình trường lớp khác nhau. Năm 1921, Thụy Điển đã nghiên cứu vấn để giáo dục giới tính. Đến năm 1923, thành lập “Hiệp hội quốc gia tình dục”. Năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển quyết định đưa thí điểm chương trình giáo dục tình dục vào nhà trường.
Năm 1956, dạy phổ cập trong tất cả các loại trường từ tiểu học đến trung học. Sau Thụy Điển là các nước Đông Âu như: Đức, Ba Lan, Hung, Tiệp, các nước Tây Âu, Bắc Âu khác. Hầu hết các nước này đều coi giáo dục tình dục là một vấn để lành mạnh, đem lại tự do cho con người. Chương trình giáo dục giới tính của họ rất đa dạng, các trường có thể tự chọn vấn để phù hợp với đối tượng tự học mà giảng day.
Nhà nước tận dụng các phương tiện truyền thông để tiến hành GDGT. Sau đó, nhiều nước châu Mỹ La Tỉnh, vùng Caribê cũng quan tâm đến giáo dục tình dục. Năm 1968, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bắt đầu có những hoạt động về GDDS trong từng khu vực. Ngành khoa học vé GDDS ra đời va phát triển làm nảy sinh yêu cầu về GDGT trong GDDS.
Năm 1973, có Hội nghị Quốc tế vé giáo dục tình dục trong các nước nói tiếng Pháp. Năm 1974, có Hội nghị Quốc tế về tình dục học ở Giơnevơ đã thảo luận đến sự cần thiết phải đưa tình dục học vào trong chương trình giảng dạy ở các ngành giáo dục, y tế. Năm 1977, có Hội thảo Quốc tế của các nước XHCN vé KHHGĐ, giáo dục tình dục, hôn nhân và gia đình ở Vácsava. Năm 1984, có hội nghị Quốc tế ở Mêhicô về KHHGĐ và GDGT.
Những năm 1984, 1986, các hội nghị UNESCO đã làm sáng tỏ những yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình và GDGT trong quá trình giáo dục ở các nước thuộc khu vực châu Á_ Thái Bình Dương. Nội dung và phương pháp GDGT ở các nước này có thể mang những khía cạnh khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất ý kiến về tầm quan trọng và sự cần thiết phải GDGT cho thế hệ trẻ, giúp họ làm chủ quá trình sinh sản của mình một cách khoa học và phù hợp với tiến bộ của xã hội. Bước vào thập niên của những năm 90, với tầm nhìn thế giới, Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) đã dự báo sự bùng nổ dân số ở cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI cùng những thẩm họa có thể xảy đến cho tương lai của loài người. Từ đó, kêu goi chính phủ các nước trên thế giới hãy tham gia một cách tích cực hơn nữa, có hiệu quả hơn nữa trong công tác GDDS phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước mình.