CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Lý thuyết xã hội hoá Các nhà xã hội học đã nhận định: quá trình xã hội hoá là quá trình làm cho con người từ một thực thể sinh học trở thành một thực thể xã hội. Quá trình quá độ mà theo đó chúng ta có thể tiếp nhận được nền văn hóa của xã hội nơi chúng ta được sinh ra – một quá trình chúng ta đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được các suy nghĩ, ứng xử thích hợp với xã hội của chúng ta được gọi là quá trình xã hội hóa. Xã hội hóa một trong những phạm trù cơ bản của Xã Hội Học.
Nhờ quá tình xã hội hóa mà xã hội có thể tồn tại và luân chuyển nền văn hóa của mình từ thế hệ này qua thế hệ khác. Các nhà xã hội học đã thống nhất, phân chia xã hội hóa thành ba giai đoạn: - Giai đoạn xã hội hoá trong gia đình - Giai đoạn xã hội hoá trong nhà trường - Giai đoạn xã hội hoá trong môi trường xã hội Ngay từ trong gia đình vấn đề về sức khỏe sinh sản đã được quan tâm khi còn bé thông qua những lời dạy dỗ, khuyên răn, … nhưng giáo dục về sức khỏe sinh sản trong gia đình không mang tính chính thức. Tuy nhiên, những kiến thức về sức khỏe sinh sản sẽ được củng cố, hình thành một cách có hệ thống khi tiếp thu ở trường, lớp. Nhưng, hầu như ở các trường học hiện nay, giáo dục giới tính, trong đó, có giáo dục sức khỏe sinh sản, vẫn chưa được xem là một môn học chính thức như các môn học khác.
Mặt khác, trong thời đại hiện nay, với sự bùng nổ thông tin, thì những vấn đề về sức khỏe sinh sản rất phong phú và đa dạng, nhưng đa phần đây là những thông tin thiếu định hướng, nên việc tiếp thu không có chọn lọc dễ dẫn đến sự sai lệch trong nhận thức và hành vi. 8 Nhưng, trong môi trường xã hội, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các nhóm bạn cùng trang lứa, cùng độ tuổi. Chính những nhóm bạn này là nơi cung cấp, chia sẻ cho nhau những thông tin về sức khỏe sinh sản, điều đó chứng tỏ, tác động, vai trò to lớn của các nhóm bạn cùng lứa tuổi. Lý thuyết xã hội hóa sẽ là lý thuyết chủ đạo, xuyên suốt đề tài chúng tôi.
Ngoài ra, chúng tôi còn áp dụng các lý thuyết khác nhằm bổ sung, làm rõ cho lý thuyết xã hội hoá 1. Lý thuyết về sự lựa chọn hợp lí Đại diện cho lý thuyết này là nhà tâm lý học người Mỹ Coleman Ông cho rằng: mỗi người tự xem xét một loạt các kích thích và lựa chọn ra những kích thích phù hợp, có ích cho bản thân mình, những kích thích nào không phù hợp hoặc không có ích sẽ bị loại bỏ, khước từ. Đó chính là sự lựa chon hợp lí. Khi đứng trước những vấn đề giới tính, cách riêng là vấn đề sức khỏe sinh sản, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi: giới tính là gì? Sức khỏe sinh sản là gì? Học sức khỏe sinh sản để làm gì? Nó có giúp ích gì cho bản thân không? Từ những câu hỏi đó, học sinh đã biết đến sức khỏe sinh sản, và thời đại hiện nay, một cách dễ dàng nhất là các em chỉ cần online là có thể có được một số lượng kiến thức khổng lồ, từ những đều thu nhận được, các em sẽ có sự lựa chọn cho bản thân mình.
Tuy nhiên, cần có sự định hướng để giúp cho các em nhìn nhận, quan tâm về sức khỏe sinh sản một cách đúng đắn. Lý thuyết hành động. Đại diện cho lý thuyết này là nhà Xã Hội Học người Đức: Max Weber Ông đã đưa ra một hệ thống mang tính khuôn mẫu bao gồm bốn kiểu hành động: - Hành động do cảm xúc: phần lớn hành động của con người là do cảm xúc. Đây là những hành động mang tính tự phát, cũng một con người, cũng một hoàn cảnh nhưng có thể có những hành động khác nhau tùy theo cảm xúc.
Nhiều khi, các em 9 không có chủ đích tìm kiếm những kiến thức về sức khỏe sinh sản nhưng trong một hoàn cảnh nào đó, các em nghe bạn bè nói về sức khỏe sinh sản, các em lại mong muốn tìm hiểu nó, vì tò mò hơn là mục đích học tập. - Hành động mang tính truyền thống: Tức là khi con người hành động theo một thói quen, xuất phát từ những gì được xã hội hóa ngay từ thuở còn thơ. Đối với truyền thống Á Đông thì những vấn đề về giới tính hay về sức khỏe sinh sản là những vấn đề hết sức tế nhị, vì thế, khi tiếp thu những vấn đề này thông thường chỉ được chấp nhận ở một khía cạnh nào đó trong phạm vi cho phép, nếu vượt qua ngưỡng đó thì sẽ bị xã hội lên án. - Hành động hợp lí về giá trị: là những hành động có tính định hướng giá trị.
Khi nhìn nhận vấn đề giới tính, cách riêng là vấn đề sức khỏe sinh sản, các em sẽ tìm hiểu xem: những thông tin đó có thật sự cần thiết cho bản thân không? Có quan trọng không? Hay ở tuổi các em những vấn đề đó có phù hợp không? Vấn đề đó có được mọi người chấp nhận không? … - Hành động hợp mục đích: người hành động phải suy nghĩ và quyết định xem mình chọn mục đích nào và dùng phương tiện nào để đạt được mục đích. Khi các em nhận thấy, những kiến thức sức khỏe sinh sản là quan trọng và cần thiết thì các em sẽ quan tâm thông qua những nơi mà các em cho là đáng tin cậy, nơi tin cậy đó có thể là: cha, mẹ, hay anh chị, và bạn bè cùng lứa tuổi, … để tâm sự, chia sẻ về những vấn đề đó Tuy nhiên, bốn loại hành động này không có một ranh giới rõ ràng mà chúng có sự đan xen với nhau. Các khái niệm: - Khái niệm sức khỏe sinh sản: Sức khỏe sinh sản là một trạng thái hồn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội ở mọi vấn đề liên quan đến bộ máy sinh sản, đến các chức năng và quá trình hoạt động sinh sản, không chỉ đơn thuần là tình trạng không có bệnh tật hoặc đau ốm. Như vậy, sức khỏe sinh sản có nghĩa là mọi người có hoạt động giới tính thỏa mãn và an toàn, có khả năng sinh sản và được tự do quyết định thời gian sinh con và 10 số con, phụ nữ và nam giới có quyền được thông tin và có quyền hướng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả theo sự lựa chọn của mình.
- Khái niệm giới tính: Là một khái niệm rộng, trước hết đó là giới sinh vật, nghĩa là thuộc nam hoặc nữ về mặt sinh học (ngoại hình, nhiễm sắc thể khả năng sinh sản …) với những đặc tính sẵn có, bẩm sinh không thay đổi. Giới tính là một đặc điểm nền tảng có tính chất sinh học - xã hội của con người. Những đặc điểm giới tính sinh học là tiền đề, là cơ sở vật chất tạo nên sự khác biệt giới tính. Mặc khác giới tính còn do các mối quan hệ xã hội chi phối.
Xã hội quy định, đánh giá con người theo những phẩm chất đạo đức, tư thế tác phong riêng phù hợp với giới tính, thể hiện ở phong tục tập quán, đạo đức xã hội. Xã hội quy định sự phân công lao động nam và nữ khác nhau. Xã hội chi phối sự đánh giá những yếu tố có nguồn gốc sinh học. Ngay cả lĩnh vực tình dục cũng được xã hội thừa nhận theo những tiêu chuẩn đạo đức, văn hóa nhất định.
Còn giới là hành vi, tâm lý theo kiểu nam nữ được hình thành do ảnh hưởng của xã hội hay một nền văn hóa nào đó. Các tiêu chuẩn để xác định giới tính vì vậy không bền vững. Giáo dục giới tính tức là giáo dục phẩm chất của giới theo những chuẩn mực do nền văn hóa của xã hội đó quy định. - Khái niệm nhận thức: Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan của chủ thể, là quá tình tạo thành trí thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan (theo tâm lý học nhận thức).
Hoạt động nhận thức là hoạt động rất đặc trưng của con người. Nó là một lĩnh vực hết sức phức tạp. Nhận thức là hoạt động của chủ thể nhằm khám phá thế giới xung quanh, nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính và quy luật khách quan của một sự vật cụ thể. Quá trình nhận thức diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau, song để đánh giá nhận thức của theo các mức độ nhận thức hay đánh giá con người về một vấn đề nào đó chúng ta có thể đánh giá theo các mức độ nhận thức hay đánh giá một cách giản đơn theo hai hướng: nhận thức đúng hay chưa đúng.
11 Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau ở những mức độ phản ánh khác nhau như: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng … những quá trình này sẽ tạo ra những sản phẩm khác nhau. Do đó, việc các em nhận thức về giáo dục giới tính cũng trải qua nhiều giai đoạn tuổi ấu thơ, thiếu nhi, vị thành niên. Những hình ảnh mà các em bắt gặp trong thực tế cuộc sống đã đi vào trong tiềm thức các em và đến một giai đoạn nhất định thì cảm giác, tri thức, tư duy, tưởng tượng, của các em trở nên phong phú và nhận thức về vấn đề này một cách cụ thể hơn, chính xác hơn. Tuy nhiên mức độ nhận thức cao – thấp – đúng – sai của học sinh về vấn đề này khác nhau.
- Khái niệm thái độ: Theo Đại Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “thái độ” được hiểu theo hai khía cạnh: - Mặt biểu hiện bề ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay việc gì, thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động. - Ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá và hành động theo một hướng nào đó trước sự việc, vấn đề gì. (Đại Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, NXB Văn hóa thông tin) Vậy thì theo nhóm nghiên cứu, thái độ của học sinh đối với vấn đề sức khỏe sinh sản là những ý nghĩ, những suy nghĩ của học sinh về vấn đề này được bộc lộ ra bên ngoài thông qua những phản ứng của các em đối với vấn đề này (cởi mở hay ngại ngùng, e thẹn, ủng hộ hay không ủng hộ, đồng tình hay bác bỏ) theo quan điểm và cách nhìn nhận riêng của từng học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản mà học sinh có những phản ứng khác nhau.