CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số định nghĩa: 1. Các giai đoạn thay đổi hành vi: Mô hình thay đổi hành vi của Prochaska, DiClemente & Norcross năm 1992 là một mô hình tích hợp. Mô hình này dung hợp nhiều lý thuyết tâm lý khác nhau để xem xét các quá trình tâm lý và hành vi của con người, từ đó vận dụng nhiều phương thức can thiệp khác nhau để tác động vào tiến trình thay đổi hành vi của con người.
Các mô hình thay đổi hành vi thừa nhận rằng sự thay đổi hành vi sức khỏe liên quan đến 6 giai đoạn thay đổi: tiền dự định(precontemplation), dự định(contemplation), chuẩn bị( preparation) , hành động (action), duy trì(maintenance) và termination (kết thúc) [57, 112]. Dựa theo mô hình thay đổi hành vi của Prochaska thì một khi người hút thuốc đã có ý định bỏ thuốc thì sẽ tiếp tục trải qua 5 giai đoạn của quá trình thay đổi. Đây là một quá trình diễn tiến liên tục không nhất thiết phải theo một đường thẳng nhưng theo đường xoáy trôn ốc hướng lên. Ở mỗi giai đoạn thì người hút thuốc lá sẽ có những thái độ và hành vi khác nhau, chính vì vậy các thầy thuốc cần xác định rõ người hút thuốc lá đang ở giai đoạn nào thì sẽ có những phương pháp và kĩ thuật khác nhau để giúp họ nâng cao quyết tâm bỏ thuốc lá và thực hiện những hành vi ứng phó với hành vi bất lợi khi bỏ thuốc lá để nhằm hỗ trợ họ bỏ thuốc lá thành công [2, 84].
5 Tiền dự định (Pre - contempaltion) Dự định (Contemplation) Chuẩn bị (Preparation) Hành động (Action) Lặp lại Duy trì (Maintenance) Biều đồ 1.1 - Mô hình các giai đoạn thay đổi hành vi Giai đoạn tiền dự định ( Pre - Contemplation) Người ở giai đoạn tiền dự định chưa có ý định để hành động trong tương lai gần, thường được đo trong vòng 6 tháng tới. Trong giai đoạn này, đối tượng đích chưa quan tâm và không có dự định áp dụng bất cứ hành vi được khuyến cáo hoặc thay đổi một hành vi nào đó trong một tương lai định trước. Giai đoạn này họ cần được cung cấp thông tin một cách đầy đủ, khách quan về hành vi mong đợi (lợi ích, cách thức áp dụng và những rào cản và biện pháp giải quyết…)[2, 112]. Giai đoạn dự định ( Contenmplation) Là giai đoạn một người có ý định thay đổi hành vi trong vòng 6 tháng tới.
Trong giai đoạn này, đối tượng suy nghĩ về việc thay đổi hành vi và dự định sẽ thay đổi trong tương lai gần. Họ đã quan tâm đến việc chuyển đổi hành vi nhưng còn do dự, băn khoăn mâu thuẫn giữa điểm có lợi và không có lợi của hành vi cần thay đổi. Đối tượng đang thiếu kiến thức, kinh nghiệm hoặc có thể gặp phải một số khó khăn cản trở. Để giúp đối tượng chuyển đổi hành vi cần tiếp tục cung cấp thông tin về nguy cơ và những lợi ích nếu 6 chuyển đổi hành vi.
Giai đoạn này cần có sự hỗ trợ về mặt tinh thần của gia đình, bạn bè, người xung quanh và một môi trường xã hội thuận lợi. Nói cách khác, họ vẫn chưa hành động hoặc mới bắt đầu xem xét các lựa chọn để thay đổi [2, 112]. Giai đoạn chuẩn bị ( Determination) Là giai đoạn một người có ý định hành động thay đổi hành vi trong tương lai gần, thường được đo bằng một tháng tiếp theo. Đối tượng đã nhận thấy sự bất lợi khi duy trì hành vi cũ, đã nhận thấy lợi ích của hành vi mới.
Họ đã có quyết tâm và có kế hoạch thực hiện hành vi/việc làm mới. Giai đoạn này đối tượng rất cần sự giúp đỡ để xác định rõ mục tiêu, thời gian cần thay đổi cũng cấp hỗ trợ kịp thời từ gia đình, bạn bè và xã hội[2, 112]. Giai đoạn hành động (Action) Giai đoạn này họ sẽ thực hiện thay đổi hành vi trong vòng 6 tháng. Đối tượng sẵn sàng thực hiện hành vi mới và thay đổi theo kế hoạch của họ, đồng thời đánh giá những lợi ích mà họ nhận được từ việc thực hiện hành vi mới.
Họ rất cần sự trợ giúp của bạn bè, gia đình, cộng đồng, người cung cấp dịch vụ…Lúc này, họ bắt đầu thực hiện các bước để từ bỏ các thói quen thiếu bền vững bằng cách thay đổi từng hành vi, bằng cách trải nghiệm hay thay đổi môi trường sống và làm việc. Giai đoạn hành động đòi hỏi các hành vi phải thay đổi một cách rõ ràng và cần cam kết về thời gian và công sức [2, 112]. Giai đoạn duy trì Ở giai đoạn này, con người sẽ củng cố các kiến thức thu được thông qua việc duy trì các hành vi mới, tạo thành thói quen mà cụ thể là hình thành thói quen bền vững (hoặc tránh, từ bỏ các thói quen tiêu dùng cũ không bền vững). Đối tượng đích đã thực hiện thành công hành vi mong đợi.
Nếu được thực hiện trong môi trường thuận lợi thì nó sẽ được duy trì thậm chí đối tượng còn truyền thông cho người khác cùng thực hiện. Nếu thực hiện trong môi trường không thuận lợi, đối tượng lại có xu hướng thoái lui về các giai đoạn trước. Vì thế trong giai đoạn này, họ cần tiếp tục cung cấp sự hỗ trợ để có 7 động lực duy trì. Dựa vào các nghiên cứu thì giai đoạn duy trì phải kéo dài từ 6 tháng đến 5 năm [2, 112].
Giai đoạn kết thúc ( Termination) Ở giai đoạn này, con người sẽ không bị cám dỗ bởi hành vi cũ. Cho dù họ có chán nản, lo lắng, buồn chán, cô đơn, tức giận, hay stress thì chắc chắn họ sẽ không quay trở lại những hành vi không có lợi cho sức khỏe [2, 112] .2 – HƯỚNG DẪN TƯ VẤN BỎ THUỐC LÁ Cán bộ y tế làm gì để giúp đỡ đối tượng THEO CÁC GIAI ĐOẠN CỦA QUÁ TRÌNH THAY ĐỔI thay đổi hành vi[2, 84] HÀNH VI [2] 5 12. Nêu biện pháp hỗ trợ và duy trì Duy trì 11. Bàn bạc các quyết định Truyền thông trực tiếp 4 10.
Giúp tổng kết kinh nghiệm Làm thử + Đánh giá 9. Cung cấp các nguồn lực cần thiết. Giúp giải quyết các khó khăn 3 7. Giúp phương pháp làm thử + đánh giá Đặt mục đích để thay đổi 2.
Nêu gương người tốt việc tốt 5. Khuyến khích, động viên Truyền thông 4. Bổ sung thêm kiến thức và kĩ năng Gián tiếp Quan tâm đến hành vi mới 3. Cung cấp thông tin cơ bản 2.
Giải thích/Phân tích lợi hại 1 Nhận ra hành vi có hại 1. Tìm hiểu đối tượng đó biết, tin và làm gì về vấn đề sức khỏe đó. 8 Nghiên cứu kiểm định mô hình thay đổi hành vi của Prochaska đã thừa nhận mô hình này phù hợp với những thay đổi hành vi của những người hút thuốc lá đã bỏ thuốc lá thành công. Nghiên cứu thực hiện trên 1466 đối tượng được tuyển chọn từ 2 bang Texas và Rhode Island.
Các đối tượng được tham gia chương trình can thiệp bỏ thuốc lá bằng hình thức truyền thông qua báo chí, đài radio và các quảng cáo truyền hình về tác hại thuốc lá, được chia làm 4 nhóm: chưa có ý định ( không có ý định bỏ thuốc trong 6 tháng tới), có ý định( có ý định bỏ thuốc lá trong vòng 6 tháng tới), chuẩn bị( có ý định bỏ thuốc lá trong vòng 6 tháng tới và đã có kế hoạch bỏ thuốc lá trong 1 tháng tới), sẵn sàng bỏ thuốc lá. Kết quả cho thấy 166 đối tượng ở giai đoạn chưa có ý định, 794 ở giai đoạn dự định và 506 ở giai đoạn chuẩn bị, các đối tượng sẽ được so sánh về tiền sử hút thuốc, kiểm tra về cân bằng quyết định ( so sánh tương đối giữa lợi và hại, được và mất), sự tự chủ ( sự tự tin trong những tình huống cụ thể để thực hiện hành vi), 10 quy trình thay đổi hành vi, hành động bỏ thuốc ở thời điểm 1 tháng và 6 tháng. Kết quả ủng hộ mạnh mẽ các giai đoạn của mô hình thay đổi hành vi. Tất cả các nhóm đều tương tự về tiền sử hút thuốc nhưng khác biệt đáng kể về hoạt động bỏ thuốc hiện tại.
Sự khác biệt về giai đoạn bỏ thuốc sẽ giúp dự đoán nỗ lực bỏ thuốc lá và bỏ thuốc lá thành công ở giai đoạn 1 và 6 tháng [29]. Dựa theo mô hình thay đổi hành vi của Prochaska, DiClemente & Norcross năm 1992 thì giai đoạn Thờ ơ (Precontemplators) được định nghĩa là những người hút thuốc không có ý định bỏ thuốc lá trong vòng 6 tháng tới. Nếu người hút thuốc lá 9 đang có ý định bỏ thuốc lá trong 6 tháng tới nhưng không có kế hoạch bỏ thuốc lá trong vòng 30 ngày tới hoặc có nhưng chưa thực hiện thì sẽ được xếp vào giai đoạn có ý định (contemplation). Những người có ý định bỏ thuốc lá trong vòng 30 ngày tiếp theo thì được xếp vào giai đoạn chuẩn bị (Preparation)[100, 110].
Người đang bỏ thuốc lá trong vòng 6 tháng là giai đoạn bỏ thuốc và không hút thuốc lá trên 6 tháng là giai đoạn duy trì. Nếu bỏ thuốc lá trên 1 năm và vĩnh viễn là bỏ thuốc lá thành công[25]. Thành phần của thuốc lá: Khói thuốc lá chưa nhiều hóa chất có hại cho cả người hút và người không hút. Thậm chí, chỉ hít một chút khói thuốc lá cũng có thể gây hại.
Nicotine có trong cây thuốc lá tự nhiên và là một thành phần có trong khói thuốc. Trong thuốc lá điếu, xì gà, các chế phẩm của thuốc lá và trong khói thuốc lá đều chứa nicotine. Nicotine có ái lực lớn với thụ thể nicotine ở não bộ, khi gắn kết vào thụ thể này gây ra các hiệu ứng tâm thần kinh, quyết định việc phát sinh và duy trì tình trạng nghiện thuốc lá [75] .000 hóa chất có trong khói thuốc lá, ít nhất 250 chất được biết là có hại cho sức khỏe, bao gồm Hydrogen Cyanide, Carbon Monixide và Amoniac [73]. Trong số 250 hóa chất độc hại đó thì ít nhất 69 chất có thể gây ung thư [73], như: Hóa chất Có trong Formaldehyde Được dùng để ướp xác chết Benzen Có trong xăng Polinium 210 Là chất phóng xạ và rất độc hại Vinyl chloride Sản xuất đường ống và thiết bị nhựa Chì Được sử dụng trong sản xuất sơn Asen Là thành phần của thuốc trừ sâu Cadmium Là kim loại được sử dụng trong pin 10 Hydrogen cyanide Được sử dụng trong vũ khí hóa học Amoniac Thành phần chất tẩy rửa gia dụng Carbon monoxide Khí thải của xe hơi 1.
Tác hại của thuốc lá: 1. Tác hại đối với sức khỏe Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ cho biết trong khói thuốc chứa hơn 7.