Chương 1: Những vấn đề lý luận về tội giết người theo pháp luật hình sự ViệtNam. Chương 2: Thực tiễn xét xử các vụ án về tội giết người tại TAND tỉnh Bắc Ninh. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả ADPL hình sự về tội giết người. 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƢỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm tội giết ngƣời và ý nghĩa của việc quy định tội phạm này theo pháp luật hình sự Việt Nam. Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam. Khái niệm tội giết người. Hiện nay, các nước trên thế giới có hai xu hướng: Một là, định nghĩa tội giết người ngay trong BLHS như Thái Lan, Thụy Điển, Cộng hòa Liên bang Nga, Trung Quốc,…; Hai là, không định nghĩa tội giết người trong BLHS như Việt Nam, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp,… Các nước theo xu hướng thứ nhất tuy đều định nghĩa tội giết người trong BLHS của mình nhưng mỗi nước lại có cách định nghĩa khác nhau.
Trong BLHS Thái Lan năm 1967, tại Điều 288, tội giết người được định nghĩa như sau: “Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác”. Tại Điều 106 BLHS Liên bang Nga năm 1996 định nghĩa tội giết người như sau: “Tội giết người là cố ý làm chết người khác”. Tại Điều 232 BLHS Trung Quốc năm 1997 định nghĩa tội giết người “là hành vi cố ý giết người khác”. Tại Điều 187 BLHS Bang California (Mỹ) năm 1998 định nghĩa tội giết người “là hành vi cố ý giết người khác hoặc giết bào thai một cách hiểm độc và bất hợp pháp”.
Tại Điều 1 Chương III BLHS Thụy Điển định nghĩa tội giết người như sau: “Tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác”. Việt Nam tuy theo xu hướng thứ hai: Không định nghĩa thế nào là tội giết người mà chỉ nêu tên tội danh. Như vậy qua điều luật ta không thể hiểu thế nào là tội giết người. Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội giết người.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật”. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng lực TNHS cố ý tước bỏ quyền sống của người khác”. Quan điểm thứ ba cho rằng: “Tội giết người là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật” [11, tr. Quan điểm thứ tư cho rằng: “Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định thực hiện”.
Nhìn chung các quan điểm đều cho rằng: Giết người là hành vi trái pháp luật cố ý làm chết người ngoài ý 6 muốn của người khác. Qua nghiên cứu các quan điểm trên thấy rằng: Quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ ba không đề cập đến dấu hiệu năng lực TNHS của người phạm tội và độ tuổi của người phạm tội hoặc quan điểm thứ hai có đề cập đến dấu hiệu năng lực TNHS nhưng không đề cập đến độ tuổi của người phạm tội. Quan điểm thứ tư có phần phản ánh đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm giết người và tác giả đồng tình với quan điểm này. Dựa trên cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 (nay là khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015) thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập , chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” và khoản 2 Điều 12 BLHS năm 1999 (nay là khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định độ tuổi chịu TNHS, tác giả đưa ra định nghĩa về tội giết người như sau: Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật thực hiện.
Các dấu hiệu pháp lý của tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam. a) Các dấu hiệu định tội: Tội phạm là một hiện tượng xã hội và một trong những đặc điểm của tội phạm là tính nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở chỗ nó ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của xã hội. Để xác định hành vi nào đó do con người thực hiện có phải là tội phạm hay không phải dựa vào CTTP.
CTTP là cơ sở pháp lý thống nhất để truy cứu TNHS người phạm tội. Như vậy, “CTTP là tổng hợp các dấu hiệu được quy định trong Luật Hình sự đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể”. Nhắc đến CTTP là đề cập đến các yếu tố bắt buộc cấu thành nên tội phạm đó cũng như các dấu hiệu của mỗi yếu tố đó. Phụ thuộc vào mỗi chế độ, nhà nước khác nhau và phụ thuộc vào chính sách hình sự của nhà nước đó mà quy định trong pháp luật hình sự những yếu tố nào là các yếu tố CTTP.
Theo khoa học luật hình sự Việt Nam thì CTTP là tổng hợp những dấu hiệu có tính chất đặc trưng chung cho một 7 loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. Có hai nhóm dấu hiệu CTTP là: Nhóm các dấu hiệu không bắt buộc của CTTP: chỉ có ở những tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự chứ không bắt buộc có ở mọi tội phạm và nhóm các dấu hiệu CTTP bắt buộc là những yếu tố đặc trưng của các loại tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS. Chỉ khi nào có đầy đủ các dấu hiệu bắt buột này thì hành vi vi phạm pháp luật mới được coi là hành vi phạm tội. Những dấu hiệu bắt buộc bao gồm: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm.
Bốn yếu tố đó đã hợp thành cấu thành của tội phạm. CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự cho phép phân biệt tội này với tội khác, trường hợp phạm tội này với trường hợp phạm tội khác trong cùng một loại tội phạm. Vì vậy CTTP được coi là khái niệm pháp lý, là sự mô tả khái quát loại tội phạm nhất định. Việc nghiên cứu CTTP có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu bản chất pháp lý của mỗi loại tội phạm, đồng thời giúp ta phân biệt được tội phạm này với tội phạm khác để xác định đúng tội danh và xử lý một cách đúng nhất.
BLHS không nói rõ cụ thể từng dấu hiệu pháp lý của từng loại tội một nhưng qua thực tiễn xét xử và nghiên cứu ta có thể rút ra những dấu hiệu pháp lý riêng của nó. Tội giết người có những dấu hiệu pháp lý sau: * Khách thể của tội giết người: Theo PGS.TS Lê Cảm thì “Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định”[4, tr. Vì giết người như đã nhấn mạnh là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật do người có năng lực TNHS và độ tuổi theo quy định của pháp luật thực hiện, nên quyền được sống đặc trưng cho khách thể của tội giết người. Tội giết người xâm phạm đến quyền sống của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động - chính là con người đang sống.
Việc xác định đối tượng tác động của tội giết người có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi lẽ, nếu hành vi nào đó tác động vào đối tượng không phải hay chưa phải là con người thì không xâm phạm đến quyền sống của con người nên không phạm tội giết người. 8 Quyền được sống là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của con người, nó được ghi nhận ở nhiều văn kiện của nước ta. Không ai có quyền tước đoạt mạng sống của người khác một cách trái pháp luật.
Một bộ phận quan trọng của khách thể của tội giết người là con người (người khác) với tư cách là đối tượng tác động của tội này. Con người nói ở đây là con người bắt đầu từ khi họ được sinh ra cho đến lúc chết và không thuộc trường hợp là đối tượng tác động của tội giết con mới đẻ. * Mặt khách quan của tội giết người: Mặt khách quan của tội phạm là sự tổng hợp các dấu hiệu do luật hình sự quy định và các tình tiết phản ánh hành vi bên ngoài của sự xâm hại cụ thể nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự. Nói một cách khác, mặt khách quan của tội phạm là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan.
Những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, bao gồm: Hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các dấu hiệu khác về thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội. Trong đó hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản, dấu hiệu bắt buộc của mọi tội phạm vì hành vi khách quan là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho quyền sống của con người. Những dấu hiệu khác của mặt khách quan như hậu quả của tội phạm, công cụ, phương tiện phạm tội… chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan.