Chương 1: Lý luận thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Bình Định Chương 3: Giải pháp bảo đảm thực hành đúng quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người từ thực tiễn tỉnh Bình Định 7 Chƣơng 1: LÝ LUẬN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA CON NGƢỜI 1. Khái niệm, nội dung và đặc điểm thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con ngƣời 1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người Quyền công tố và thực hành quyền công tố là những khái niệm được nhắc đến nhiều trong luật TTHS nước ta khi đề cập chức năng của VKS các cấp. Điều 138 Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên quy định VKSND tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật. thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất; các VKSND địa phương và VKS quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình.
Quy định đó tiếp tục được nghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2014. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND và các văn bản pháp luật TTHS khác cũng có những quy định tương tự. Trong khoa học luật TTHS, việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng. Giải quyết tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định rõ chức năng của VKS, đặc biệt là trong TTHS; từ đó có những quyết định đúng đắn về tổ chức VKS các cấp.
Việc xác định quyền công tố và thực hành quyền công tố có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn. Việc giải quyết những vấn đề trên giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của 8 VKS trong công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, vấn đề thực hành quyền công tố, phạm vi và nội dung của nó, mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS còn chưa được rõ ràng. Theo từ điển tiếng Việt thì “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn”, “thực hành” cũng đồng nghĩa với “thực hiện”[31].
Để thực hiện quyền công tố thì VKS phải sử dụng các quyền năng thuộc nội dung quyền công tố trong suốt quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án. Từ đó, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Nội dung quyền công tố là sự buộc tội của Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội [32]. Như vậy, thực hành quyền công tố là việc VKS sử dụng các biện pháp theo quy định pháp luật để truy cứu TNHS người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.
Hoạt động thực hành quyền công tố (áp dụng pháp luật) của KSV trong từng vụ án cụ thể luôn mang sắc thái riêng, phù hợp với từng hành vi, hoàn cảnh và đặc điểm nhân thân của mỗi con người cụ thể. Sự đa dạng và sinh động của thực tiễn áp dụng pháp luật không chỉ có ở từng vụ việc cụ thể, đối với những đối tượng cụ thể mà còn có cả ở mỗi KSV. Quy phạm pháp luật luôn mang tính khuôn mẫu chung và các tiêu chuẩn, quyền, trách nhiệm của KSV cũng là những quy định chung, thống nhất. Nhưng trình độ, năng lực kỹ năng thực hành quyền công tố ở mỗi KSV lại không giống nhau.
Mỗi KSV đều có một hoàn cảnh sống, một trình độ nhận thức về chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội. ở các mức độ khác nhau. Cùng một trường hợp phạm tội cụ thể nhưng cách nhìn nhận, đánh giá về nhân thân của bị cáo, về tính 9 chất và mức độ của hành vi phạm tội ở mỗi KSV có khác nhau nên việc đề nghị áp dụng mức hình phạt cụ thể trong khung luật định lại ít khi giống nhau. Do đó, có thể khẳng định hoạt động thực hành quyền công tố mang dấu ấn chủ quan của KSV khá sâu sắc.
Pháp luật đòi hỏi phải áp dụng một cách thống nhất, khách quan, chính xác cho mọi trường hợp, là thước đo chung cho mọi trường hợp cụ thể và cá biệt. Hoạt động thực hành quyền công tố của KSV lại càng đòi hỏi sự khách quan, chính xác và thống nhất. Do đó, tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hành quyền công tố của KSV có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần làm sáng tỏ những tác động đến việc ra quyết định áp dụng pháp luật của KSV. Đảng, Nhà nước và người dân đều mong muốn các quyết định áp dụng pháp luật của VKS đều phải khách quan, nghiêm minh, thống nhất và đúng pháp luật.
Những quyết định áp dụng pháp luật khách quan, công minh và chính xác của VKS trong thời gian qua đã góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Con người với tư cách là thực thể của tự nhiên và xã hội, luôn là đối tượng được quan tâm và bảo vệ hàng đầu trong mọi nhà nước, đặc biệt là ở các nhà nước hiện đại thì vấn đề con người càng được quan tâm, xã hội càng phát triển thì việc bảo vệ con người và các lợi ích của con người càng được chú trọng. [14] Những hành vi xâm phạm sức khỏe con người là xâm phạm vào quyền được bảo vệ sức khỏe. Các tội xâm phạm sức khỏe con người là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến khách thể sức khỏe, vốn quý của con người, được luật hình sự bảo vệ.
Khách thể trực tiếp của các tội xâm phạm sức khỏe con người là quyền bất khả xâm phạm, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của một người bị hại cụ thể. 10 Đối tượng tác động của các tội phạm này là người đang sống, đang tồn tại với tư cách là thực thể tự nhiên và chủ thể xã hội [53, tr. Theo quy định của BLHS 1999, các tội xâm phạm sức khỏe của con người bao gồm các tội sau: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đây là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS được thực hiện một cách cố ý xâm phạm tới quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
Đây là hành vi do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS được thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với mình hoặc đối với người thân thích của mình, xâm phạm tới quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của nạn nhân; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Đây là là hành vi của người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà chống lại một cách rõ ràng là quá mức cần thiết, làm cho người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe; Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ. Đây là hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, do người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý trong khi thi hành công vụ đã gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên; Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đây là hành vi của một người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện, do cẩu thả mà không thấy trước được hành vi của mình có khả năng 11 gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước, hoặc tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả đó nhưng cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được; Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính.
Đây là hành vi của người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS, do coi thường quy tắc nghề nghiệp, quy tắc hành chính, không tuân thủ theo những quy tắc đó, thực hiện một cách cẩu thả hoặc tin tưởng là hậu quả không xảy ra nhưng thực tế đã dẫn đến hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội hành hạ người khác. Đây là hành vi của người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý xâm phạm tới quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người bị lệ thuộc. Như vậy, có thể cho rằng, các tội xâm phạm sức khỏe của con người là những hành vi (hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận, bảo vệ.