CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TRONG SỬ DỤNG TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN 1. TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN 1. Khái niệm và đặc điểm 1. Khái niệm Khái niệm về trang thiết bị y tế được giải thích chi tiết tại Nghị định 36/2016/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 169/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2018 (có hiệu lực từ ngày 10 tháng 01 năm 2019), theo đó “Trang thiết bị y tế” là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử và chất hiệu chuẩn in-vitro, phần mềm (software) được sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu trang thiết bị y tế để phục vụ cho con người nhằm một hoặc nhiều mục đích sau đây: – Chẩn đoán, ngăn ngừa, theo dõi, điều trị và làm giảm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắp tổn thương, chấn thương; – Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ giải phẫu và quá trình sinh lý; – Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống; – Kiểm soát sự thụ thai; – Khử khuẩn trang thiết bị y tế, bao gồm cả hóa chất sử dụng trong quy trình xét nghiệm; 9 – Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người.
Có thể thấy: Trang thiết bị y tế (TTBYT) được coi là một loại hàng hóa đặc biệt, được sử dụng trong lĩnh vực y khoa với chủng loại phong phú, đa dạng và luôn được cải tiến theo tiến bộ của khoa học – công nghệ mới. Đặc điểm Mỗi loại trang thiết bị y tế đều có tính chất, đặc điểm, công dụng riêng và được sử dụng linh hoạt cho các đối tượng khác nhau. Tuy nhiên chúng có các đặc điểm chung như: – TTBYT là tài sản cố định hiện đại, tiên tiến, được sản xuất gắn liền với sự phát triển của khoa học – công nghệ, thường có giá trị lớn. Nó được sản xuất gắn liền với thành tựu của khoa học tiên tiến về khám chữa bệnh như máy gia tốc xạ trị, máy chụp cộng hưởng từ, chụp cắt lớp vi tính.
– Trong quá trình sử dụng không tạo ra sản phẩm, hàng hóa để đưa ra thị trường, tạo ra dịch vụ để phục vụ cho công tác y tế do đó không có chuyển giá trị hao mòn vào giá thành của sản phẩm hay chi phí lưu thông như các loại hàng hóa thông thường. – TTBYT tại bệnh viện tuyến tỉnh thường được đầu tư, mua sắm từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau, như: từ Ngân sách Nhà nước, từ Xã hội hóa, các loại viện trợ, Quỹ phát triển khoa học, nguồn Liên doanh, liên kết hay từ chính nguồn thu của bệnh viện,… – TTBYT ở Việt Nam phần lớn được nhập khẩu từ các nước có nền khoa học tiên tiến, hiện đại nên đòi hỏi người sử dụng phải có sự am hiểu và cần cập nhật, nâng cao trình độ chuyên môn thường xuyên. Phân loại Theo Điều 4 Nghị định 169/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2018, TTBYT gồm 2 nhóm được phân làm 4 loại dựa trên mức độ rủi ro tiềm ẩn liên quan đến thiết kế kỹ thuật và sản xuất các trang thiết bị y tế đó các loại như sau: 1) Nhóm 1 gồm trang thiết bị y tế thuộc loại A là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro thấp. 2) Nhóm 2 gồm trang thiết bị y tế thuộc loại B, C, D, trong đó: – Trang thiết bị y tế thuộc loại B là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro trung bình thấp; – Trang thiết bị y tế thuộc loại C là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro trung bình cao; – Trang thiết bị y tế thuộc loại D là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro cao.
Danh mục trang thiết bị y tế thiết yếu cho bệnh viện Để tăng cường hoạt động quản lý Nhà nước, đảm bảo sự thống nhất trong toàn ngành, Bộ trưởng Bộ y tế đã ban hành danh mục thiết bị y tế cụ thể được sử dụng trong lĩnh vực chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Bộ trưởng Bộ y tế đã ký Quyết định số 437/QĐ-BYT ngày 20/02/2002 về việc ban hành danh mục trang thiết bị y tế bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã và túi y tế thôn bản. Tổng hợp số loại TTBYT từ danh mục TTBYT do Bộ y tế ban hành đối với bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, số lượng các loại TTBYT được phân bổ theo các khoa trong bệnh viện như sau: 11 Bảng 1. Danh mục trang thiết bị y tế bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh STT Khoa phòng Số lượng (Loại) 1 Khoa khám bệnh 41 2 Khoa Hồi sức cấp cứu 105 3 Khoa Nội tổng hợp 75 4 Khoa Nội tim mạch lão khoa 72 5 Khoa Truyền nhiễm 72 6 Khoa Lao 74 7 Khoa Da liễu 69 8 Khoa Thần kinh 76 9 Khoa Tâm thần 68 10 Khoa Y học cổ truyền 67 11 Khoa Nhi 73 Khoa Ngoại tổng hợp (ngoại – chấn 12 73 thương chỉnh hình – bỏng) 13 Khoa Phẫu thuật gây mê hồi sức 114 14 Khoa Sản phụ (gồm cả sơ sinh) 103 15 Khoa Tai Mũi Họng 82 16 Khoa Răng Hàm Mặt 83 17 Khoa Mắt 95 18 Khoa Vật lý trị liệu phục hồi chức năng 87 19 Khoa Ung bướu 66 20 Khoa Huyết học truyền máu 51 12 21 Khoa Hoá sinh 49 22 Khoa Vi sinh 61 23 Khoa Chẩn đoán hình ảnh 34 24 Khoa Thăm dò chức năng 35 25 Khoa nội soi 25 26 Khoa Giải phẫu bệnh 31 27 Khoa Chống nhiễm khuẩn 23 28 Khoa Dược 40 29 Khoa Dinh dưỡng 16 30 Phòng Kế hoạch tổng hợp 12 31 Phòng Y tá 5 32 Phòng Vật tư thiết bị y tế 24 33 Phòng Tổ chức cán bộ 5 34 Phòng Hành chính quản trị 32 35 Phòng Kế toán tài chính 8 36 Trang thiết bị chung và dự phòng 56 (Nguồn: Tổng hợp từ Danh mục trang thiết bị y tế bệnh viện tuyến tỉnh của Quyết định số 437/QĐ-BYT ngày 20/02/2002) Căn cứ vào danh mục này mà các Bệnh viện Đa khoa tuyến tỉnh hằng năm thiết lập dự án đầu tư, xây dựng dự trù mua sắm, bổ sung trang thiết bị y tế cho giai đoạn tiếp theo để đảm bảo đáp ứng đủ yêu cầu khám chữa bệnh của đơn vị, các cán bộ được giao nhiệm vụ theo dõi, quản lý vật tư – thiết bị của các bệnh viện cần theo dõi, cập nhật, kiểm kê các TTBYT thường xuyên và báo cáo tình hình thay đổi của TTBYT với cấp trên.
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TRONG SỬ DỤNG TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN 1. Khái niệm Hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa “kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”. + Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Người ta chỉ thu được hiệu quả khi kết quả đầu ra lớn hơn chi phí đầu vào.
Hiệu quả càng lớn chênh lệch này càng cao. + Về mặt định tính: Hiệu quả kinh tế cao biểu hiện sự cố gắng nỗ lực, trình độ quản lý của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống quản lý, sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị - xã hội. Khác với ngành kinh tế quốc dân khác, khi nói tới hiệu quả sử dụng trang thiết bị y tế ở bệnh viện, phải xét trên hai mặt: hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội. Hiệu quả xã hội thể hiện trên khía cạnh trách nhiệm của bệnh viện đối với xã hội như tăng cường sức khỏe cho bệnh nhân, cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ y tế….
Hiệu quả tài chính thể hiện ở mức độ tận dụng các trang thiết bị y tế tại bệnh viện trong khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ra một khối lượng công việc và dịch vụ có chất lượng cao để thỏa mãn nhu cầu khám chữa bệnh cho bệnh nhân… Như vậy có thể hiểu Hiệu quả tài chính trong sử dụng trang thiết bị y tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt động khám chữa bệnh để đạt được các mục tiêu về tài chính; là những giá trị, 14 lợi ích kinh tế mà đơn vị sự nghiệp chính thức đạt được sau một quá trình hoạt động. Hay nói cách khác, hiệu quả tài chính trong sử dụng TTBYT tại đơn vị sự nghiệp được hiểu là trình độ biến đổi các nguồn lực đầu vào, phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả tài chính và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính trong sử dụng trang thiết bị y tế tại bệnh viện Đối với TTBYT của bệnh viện, mức độ hiệu quả tài chính thường được đo lường trực tiếp bởi số thu viện phí hay số lượt người khám chữa bệnh,… đồng thời hiện trạng và kết quả sử dụng các TTBYT lại có tác động gián tiếp tới hiệu quả tài chính tại bệnh viện. Việc đầu tư TTBYT, phát triển y tế kỹ thuật cao trong chuẩn đoán, điều trị cùng dịch vụ y khoa chuyên nghiệp sẽ giúp bệnh viện trở thành địa chỉ tin cậy và uy tín trong việc KCB và điều trị cho người dân, tạo ra hiệu quả xã hội như nâng cao chất lượng, đảm bảo sức khỏe lợi ích cho cộng đồng xã hội,… Luận văn sử dụng một số chỉ tiêu chính để đánh giá hiệu quả tài chính trong sử dụng trang thiết bị y tế tại bệnh viện sau: a) Tình hình đầu tư, mua sắm trang thiết bị y tế Thể hiện mức độ quan tâm của Ban lãnh đạo trong việc đầu tư, mua sắm TTBYT mới, theo kịp với tiến độ khoa học để phục vụ tốt cho quy trình khám chữa bệnh.
Đầu tư mua sắm TTBYT là hoạt động đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm nhu cầu sử dụng tài sản công ở các bệnh viện. Những năm gần đây, việc tăng cường đầu tư mua sắm tài sản công đã quan tâm và tạo nhiều điều kiện về kinh phí.