CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn cố định trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm vốn cố định trong doanh nghiệp Khái niệm Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư để sử dụng cho mục đích kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời. Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển của vốn vốn kinh doanh được chia làm 2 bộ phận: vốn cố định và vốn lưu động.[3] Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành tài sản cố định mà có đặc điểm là: - Tham ra vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh.
- Vốn cố định được luân chuyển dần dần vào chi phí sản xuất kinh doanh dưới hình thức khấu hao tương ứng với phần giá trị hao mòn của tài sản cố định. - Sau nhiều chu kì sản xuất kinh doanh vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Tài sản cố định: là những tài sản có giá trị lớn và có thời gian sử dụng lâu dài thỏa mãn các tiêu chuẩn là TSCĐ, cụ thể: Thứ nhất, là tiêu chuẩn về giá trị: tùy theo từng nước và từng thời kì có những quy định cụ thể, ở Việt Nam hiện nay theo quy định có giá trị từ 30 000 000 đồng (ba mươi triệu đồng) trở lên (cập nhập theo thông tư mới TT45/2013/TT-BTC) Thứ hai, tiêu chuẩn về thời gian sử dụng: thời gian sử dụng dài, thông thường quy định có thời gian trên 1 năm. Chú ý: Giá trị tài sản cố định và tài sản cố định có sự khác nhau: - Lúc mới đưa vào hoạt động, vốn cố định có giá trị bằng giá trị nguyên thủy của tài sản cố định.
- Về sau giá trị của vốn cố định thường thấp hơn giá trị nguyên thủy của tài sản cố định do có khoản khấu hao đã trích. Đặc điểm 3 Vốn cố định tham ra vào nhiều chu kì sản xuất sản phẩm, điều này do đặc điểm của tài sản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kì sản xuất quyết định. Tiếp đến là vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kì sản xuất.[6] Vốn cố định có chu kì vận động dài, sau nhiều năm mới có thể thu hồi đủ số vốn đầu tư đã ứng ra ban đầu. Trong thời gian dài như vậy, đồng vốn luôn bị đe dọa bởi những rủi ro, những nguyên nhân chủ quan khách quan làm thất thoát vốn như: - Do kinh doanh kém hiệu quả, sản xuất ra không tiêu thụ được, do giá bán thấp hơn giá thành nên thu nhập không đủ bù đắp mức độ hao mòn TSCĐ.
- Do sự phát triển của tiến độ khoa học kĩ thuật làm cho mức độ hao mòn của TSCĐ vượt qua mức dự kiến của TSCĐ về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị. - Do yếu tố thời gian của đồng vốn chịu sự tác động của lãi. Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Quy mô của vốn cố định và trình độ quản lý sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang bị kĩ thuật của sản xuất kinh doanh.
Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo tính quy luật riêng nên việc quản lý vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân loại tài sản cố định trong doanh nghiệp Việc quản lý vốn cố định là công việc phức tạp và khó khăn, nhất là ở doanh nghiệp có tỉ trọng vốn lớn, có phương tiện kĩ thuật tiên tiến. Trong thực tế tài sản cố định sắp xếp phân loại theo những tiêu chí khác nhau nhằm phục vụ công tác quản lý, bảo dưỡng tài sản, đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại, từng nhóm tài sản.[6] Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện Tài sản cố định hữu hình 4 Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh có giá trị lớn thời gian thực hiện lâu dài. Nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải…[3] Là mọi tư liệu lao động, là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện 1 hay 1 số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kì một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thỏa mãn đồng thời cả hai tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là một TSCĐ: 1- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên 2- Có giá trị từ 30 000 000 đồng trở lên Tài sản cố định vô hình Tài sản cố định vô hình là những tài sản cố định không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kì kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về đất sử dụng, chi phí về bằng phát sinh, sáng chế, bản quyền, nhận chuyển giao công nghệ,…[3] Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ: Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nếu thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau: 1- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên 2- Có giá trị từ 30 000 000 đồng trở lên Nếu khoản chi phí này không đồng thời thỏa mãn cả hai tiêu chuẩn trên thì được hạch toán thẳng hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Vai trò của vốn cố định trong doanh nghiệp Về mặt giá trị bằng tiền vốn cố định phản ánh tiềm lực của doanh nghiệp. Còn về mặt hiện vật, vốn cố định thể hiện vai trò của mình qua tài sản cố định. 5 Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó gắn liền với doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại.
Doanh nghiệp có tài sản cố định có thể không lớn về mặt giá trị nhưng tầm quan trọng của nó lại không nhỏ chút nào. Thứ nhất, tài sản cố định phản ánh mặt bằng cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, phản ánh quy mô của doanh nghiệp có tương xứng hay không với đặc điểm loại hình kinh doanh mà nó tiến hành. Thứ hai, tài sản cố định luôn mang tính quyết định đối với quá trình sản xuất hàng hoá của doanh nghiệp. Do đặc điểm luân chuyển của mình qua mỗi chu kỳ sản xuất, tài sản cố định tồn tại trong một thời gian dài và nó tạo ra tính ổn định trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp cả về sản lượng và chất lượng.
Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường, khi mà nhu cầu tiêu dùng được nâng cao thì cũng tương ứng với tiến trình cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm sao để tăng năng suất lao động, tạo ra được những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, nhằm chiếm lĩnh thị trường. Sự đầu tư không đúng mức đối với tài sản cố định cũng như việc đánh giá thấp tầm quan trọng của tài sản cố định dễ đem lại những khó khăn sau cho doanh nghiệp: - Tài sản cố định có thể không đủ tối tân để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác cả về chất lượng và giá thành sản phẩm. Điều này có thể dẫn các doanh nghiệp đến bờ vực phá sản nếu lượng vốn của nó không đủ để cải tạo đổi mới tài sản.
- Sự thiếu hụt các khả năng sản xuất sẽ giúp các đối thủ cạnh tranh giành mất một phần thị trường của doanh nghiệp và điều này buộc doanh nghiệp khi muốn giành lại thị trường khách hàng đã mất phải tốn kém nhiều về chi phí tiếp thị hay phải hạ giá thành sản phẩm hoặc cả hai biện pháp. Thứ tư, tài sản cố định còn lại một công cụ huy động vốn khá hữu hiệu: Đối với vốn vay ngân hàng thì tài sản cố định được coi là điều kiện khá quan trọng bởi nó đóng vai trò là vật thế chấp cho món tiền vay. Trên cơ sở trị giá của tài 6 sản thế chấp ngân hàng mới có quyết định cho vay hay không và cho vay với số lượng là bao nhiêu. Đối công ty cổ phần thì độ lớn của công ty phụ thuộc vào giá tài sản cố định mà công ty nắm giữ.
Do vậy trong quá trình huy động vốn cho doanh nghiệp bằng cách phát hành trái phiếu hay cổ phiếu, mức độ tin cậy của các nhà đầu tư chịu ảnh hưởng khá lớn từ lượng tài sản mà công ty hiện có và hàm lượng công nghệ có trong tài sản cố định của công ty. Nguồn huy động vốn cố định trong doanh nghiệp Đầu tư vào TSCĐ là một sự bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những TSCĐ cần thiết để thực hiện mục tiêu kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp. Do đó việc xác định nguồn tài trợ cho những khoản mục đầu tư như vậy là rất quan trọng bởi vì nó có yếu tố quyết định cho việc quản lý và sử dụng vốn cố định sau này. Về đại thể người ta có thể chia làm 2 loại: Vốn do ngân sách nhà nước cấp Vốn do ngân sách nhà nước cấp được cấp phát cho các doanh nghiệp nhà nước.
Ngân sách chỉ cấp 1 bộ phận vốn ban đầu khi doanh nghiệp này mới bắt đầu hoạt động. Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải bảo toàn vốn do nhà nước cấp. Ngoài ra các doanh nghiệp thuộc mọi tầng lớp, thành phần kinh tế cũng có thể chọn được nguồn tài trợ từ phía nhà nước trong một số trường hợp cần thiết, những khoản tài trợ thường không lớn và cũng không phải thường xuyên do đó trong một vài trường hợp hết sức khó khăn, doanh nghiệp mới tìm đến nguồn tài trợ này. Bên cạnh đó nhà nước cũng xem xét trợ cấp cho các doanh nghiệp nằm trong danh mục ưu tiên.