Chương 1. Cơ sở lý luận chung về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và những quyền tài sản của doanh nghiệp trong một thời điểm nhất định. Và tài sản đó có khả năng đem lại lợi ích, lợi nhuận cho doanh nghiệp đó.
Theo chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) do Hội đồng chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS) đưa ra, tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó một lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật Dân sự 2005 định nghĩa tài sản là: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Ta có thể thấy được rằng, định nghĩa tài sản vẫn chưa được làm rõ cụ thể khi mới chỉ nhắc đến vật, tiền, giấy tờ có giá (như trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu,…) và quyền tài sản (như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghệ, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhân số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng,…).
Cho đến Bộ luật Dân sự năm 2015, tại Điều số 105, định nghĩa tài sản được bổ sung thêm làm rõ hơn: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản có và tài sản hình thành trong tương lai”. Doanh nghiệp có nhiều tài sản, cần phải phân loại chúng mới quản lý được.
Có một cách phân loại là căn cứ vào thời gian đầu tư, sử dụng và thu hồi toàn bộ tài sản trong một doanh nghiệp. Tài sản sẽ được chia thành hai loại chính là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tài sản của doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng, có thể là hữu hình, vô hình, bằng tiền, cố định hay lưu động,… nó không chỉ thể hiện dưới hình thái vật chất mà còn biểu hiện dưới hình thái giá trị, là những tài sản chắc chắn mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp khi sử dụng. Giá trị của tài sản được biểu hiện bằng tiền, gọi là vốn của doanh nghiệp.
Giá trị của chúng cần phải được đánh giá, đo đạc một cách chính xác, tin cậy và được so sánh với các thước đo trung gian áp dụng theo quy định hiện hành. Do đó, tài sản đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần mang lại lợi ích cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. 1 Tóm lại, trên cơ sở thừa kế các nghiên cứu trước, cũng như đúc kết từ quá trình học tập và trau dồi. Tác giả đồng ý với đa số các nghiên cứu cho rằng: Tài sản của doanh nghiệp là toàn bộ vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản của doanh nghiệp, có thể tồn tại dưới dạng hữu hình hoặc vô hình, tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh và có khả năng đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.
Phân loại tài sản của doanh nghiệp 1. Căn cứ vào hình thái biểu hiện của tài sản Tài sản hữu hình Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do chủ tài sản nắm giữ để sử dụng phục vụ các mục đích của mình. Tài sản hữu hình bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Ví dụ như là các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng, hàng hóa, ô tô,… Tài sản vô hình Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị do chủ tài sản nắm giữ để sử dụng phục vụ mục đích của mình.
Tài sản vô hình bao gồm: kỹ năng quản lý, bí quyết marketing, danh tiếng, uy tín, tên thương hiệu, biểu tượng doanh nghiệp và việc sở hữu các quyền và công cụ hợp pháp. Ví dụ như là quyền sử dụng đất, quyền sáng chế, quyền sở hữu trí tuệ, bằng phát minh, bản quyền, quyền kinh doanh, nhãn hiệu hay các hợp đồng. Tóm lại, nắm rõ tài sản hữu hình, vô hình là gì trong hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh giúp cho bạn có cái nhìn tổng quan về tài sản từ đó nâng cao cách thức sử dụng, quản lý tài sản. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển và công dụng của tài sản doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp được chia thành 2 nhóm cơ bản: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là tài sản ngắn hạn. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 1 chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.
2 Tiền và các khoản tương đương tiền: Bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, chứng khoán dễ thanh khoản. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn như cổ phiếu, trái phiếu. Ví dụ như tiền Việt Nam, ngoại tệ, giá trị các loại chứng khoán có thời gian đáo hạn ngắn, vàng, bạc, đá quý, kim khí. Đầu tư tài chính ngắn hạn: Là những khoản đầu tư ra bên ngoài với mục đích kiếm lời, có thời gian thu hồi ngắn.
Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh như: tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng… Hoặc chứng khoán mua vào bán ra như: cổ phiếu, trái phiếu để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm. Các khoản phải thu ngắn hạn: Là chỉ tiêu tổng phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản thu ngắn hạn có kỳ hạn thu hồi còn lại không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo (sau khi trừ đi dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi). Các khoản phải thu ngắn hạn bao gồm: phải thu ngắn hạn của khách hàng, trả trước cho người bán ngắn hạn và khoản phải thu ngắn hạn khác,… Hàng tồn kho: Là bộ phận tài sản của DN đang trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc được chờ để bán, hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn của DN. Bao gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng gửi bán, hàng mua đang đi đường,… Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác.
Tóm lại, TSNH của doanh nghiệp thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá trình sản xuất thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Do vậy để nâng cao hiệu quả kinh doanh cần phải thường xuyên phân tích từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH. Tài sản dài hạn Tài sản dài hạn là những tài sản thường có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài, thời gian sử dụng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán sau 12 tháng kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là TSDH.
Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán sau 1 chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc kế toán năm được coi là TSDH. Tài sản dài hạn của doanh nghiệp bao gồm: Các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định (TSCĐ), tài sản dở dang dài hạn, đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác. 3 Các khoản phải thu dài hạn: Là lợi ích của đơn vị hiện đang bị các đối tượng khác chiếm dụng, có thời hạn thu hồi trên 1 năm. Bao gồm các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác.
Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn và sử dụng được trong nhiều chu kỳ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (trên 1 năm), trong quá trình sử dụng sẽ hao mòn dần. TSCĐ chia thành 2 loại là tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định hữu hình là những tài sản tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp những vẫn giữ nguyên được hình thái vật chất như lúc ban đầu và phải thoả mãn các điều kiện như là (nguyên giá tài sản từ 30.000 Việt Nam đồng (VND) trở lên, thời gian sử dụng trên 1 năm và thu được lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tài sản). Tài sản cố định hữu hình bao gồm: nhà cửa, máy móc, thiết bị, các phương tiện vận tải,… Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, thỏa mãn các điều kiện của tài sản cố định và thể hiện một lượng giá trị đầu tư, chi phí nhất định mà doanh nghiệp bỏ ra để có được tài sản cố định vô hình.
Tài sản cố định vô hình bao gồm: bằng sáng chế, phát minh, bản quyền tác giả, quyền sử dụng đất, các chương trình phần mềm,.