CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN 1. Khái niệm về tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn thường chiếm một tỷ trọng lớn của tổng tài sản trong bảng cân đối kế toán nên nó có tầm ảnh hưởng lớn tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghệp. Theo Trần Ngọc Thơ (2009): “Tài sản ngắn hạn hay cũng gọi là tài sản lưu động là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả các loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng một năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có tính thanh khoản khác”. Theo thông tư 200/2014/TT-BTC: “Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, gồm: Tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác”. Lưu Thị Hương (2013) thì có quan điểm: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu.
Cũng như tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sản xuất ngắn hạn được thể hiện dưới hình thái như nguyên vật liệu, vật đóng gói, phụ tùng thay thế. Trong lĩnh vực lưu thông nó tồn tại thay thế luân phiên cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục”. 6 Củng cố những nhận định trên, Nguyễn Văn Công (2019) định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản có thời gian luân chuyển ngắn, thường là trong vòng 1 năm hay 1 chu kỳ kinh doanh bình thường”.
Tóm lại, TSNH có thể được hiểu là tài sản có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp và tồn tại dưới dạng tiền, hiện vật, đầu tư ngắn hạn , các khoản phải thu ngắn hạn và hàng tồn kho. Phân loại tài sản ngắn hạn TSNH có thể phân loại theo các tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu của nhà quản lý, từ đó có phương án để điều chỉnh và nâng cao hiệu suất sử dụng TSNH. Dưới đây là một số tiêu thức được sử dụng: a. Phân loại theo hình thái biểu hiện Lê Thị Xuân (2015) dựa vào hình thái biểu hiện để phân loại TSNH gồm hai loại sau đây: * Tiền, các khoản phải thu và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn - Tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
Tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho DN. Tuy nhiên đây cũng là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lời bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm vốn lại là một câu hỏi quan trọng cần nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết. - Các KPT: chủ yếu là các khoản thu từ khách hàng, ứng trước cho nhà cung cấp,… - Đầu tư tài chính ngắn hạn * Hàng tồn kho - HTK trong khâu dự trữ: các loại nguyên vật liệu chính, phụ, phụ tùng thay thế, vật đóng gói và công cụ dụng cụ trong kho. 7 - HTK trong khâu sản xuất: bao gồm các sản phẩm dở dang (sản phẩm đang chế tạo) - HTK trong khâu tiêu thụ: bao gồm thành phẩm, là giá trị những sản phẩm đã sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn và đã được nhập kho.
Cách phân loại này giúp DN biết được cơ cấu dự trữ của các khoản mục, khả năng thanh toán của DN từ đó hướng giải quyết điều chỉnh hợp lý. Phân loại dựa trên các khoản mục kế toán Phân loại TSNH dựa trên các khoản mục kế toán, bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các KPT, HTK và TSNH khác. * Tiền và các khoản tương đương tiền Đây là khoản mục tổng hợp toàn bộ số tiền mà DN hiện đang nắm giữ tại thời điểm báo cáo, bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền. Tiền là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của DN, gồm có tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.
Các khoản tương đương tiền là chỉ tiêu phản ánh các khoản đầu tư ngắn hạn và có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định được, không tồn tại nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư tại thời điểm báo cáo. Các khoản tương đương tiền ở Việt Nam chủ yếu gồm có: tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng và hợp đồng tiền gửi không quá 3 tháng. * Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn phản ánh tổng giá trj các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (sau khi đã trừ đi dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn), bao gồm đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn và đầu tư ngắn hạn khác. Các khoản đầu tư ngắn hạn được phản ánh trong mục này là các khoản đầu tư có thời hạn thu hồi vốn dưới 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh, không bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng kể từ 8 ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo đã được tính vào chỉ tiêu “Các khoản tương đương tiền”.
* Các khoản phải thu Các KPT là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ phải thu của khách hàng từ việc mua bán chịu, khoản trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, KPT theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dưng, các KPT khác tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh, sau khi đã trừ đi dự phòng phải thu khó đòi. Các KPT khác gồm có các khoản tạm ứng, cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn từ các đối tượng liên quan tại thời điểm báo cáo. * Hàng tồn kho HTK là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ trị giá hiện có các loại HTK dự trữ phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của DN sau khi đã trừ đi dự phòng giảm giá HTK đến thời điểm báo cáo. HTK là tổng của các khoản hàng mua đang đi trên đường, nguyên liệu vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí SXKD dở dang, thành phẩm, hàng hóa và hàng gửi đi bán trên sổ cái.
* Tài sản ngắn hạn khác Đây là khoản mục tổng hợp phản ánh các khoản chi phí trả trước ngắn hạn, các khoản thuế phải thu và TSNH chờ xử lý tại thời điểm báo cáo. Các khoản thuế phải thu phán ánh các khoản thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ và khoản thuế nộp thừa cho Nhà nước tại thời điểm báo cáo. Số liệu trong mục các khoản thuế phải thu dựa trên số dư của thuế giá trị gia tăng được khấu trừ và thuế và các khoản phải nộp Nhà nước trên sổ cái. Các khoản TSNH chờ xử lý căn cứ vào số dư tài sản thiếu chờ xử lý trên sổ cái.
Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Thứ nhất, TSNH có thời gian luân chuyển trong một chu kỳ kinh doanh, đây là đặc điểm dễ nhận biết và phân biệt với tài sản dài hạn. Thứ hai, TSNH sẽ chuyển hết toàn bộ giá trị vào sản phẩm trong quá trình SXKD. Do đó mọi chi phí phát sinh trong quá trình chuyển hóa TSNH thành sản phẩm hoàn thiện đều được ghi nhận vào giá thành của sản phẩm. Thứ ba, TSNH thường thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ta sản phẩm.
Đây là đặc điểm dễ thấy mà TSNH, đặc biệt đối với DN tập trung vào lĩnh vực sản xuất. Thứ tư, các loại TSNH có tính thanh khoản cao, dễ chuyển đổi thành tiền mặt hoặc các loại tài sản tương đương tiền. Vai trò của tài sản ngắn hạn TSNH mang những vai trò sau: Thứ nhất, TSNH là điều kiện vật chất không thể thiếu để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành bình thường và liên tục. TSNH có mặt trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh, từ khâu nhập nguyên vật liệu, sản xuất hàng hóa đến tiêu thụ sản phẩm.
Thứ hai, TSNH đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của DN. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn thấp, kéo dài thường xuyên xuất hiện dấu hiệu rủi ro tài chính, nguy cơ phá sản vẫn có thể xảy ra kể cả trong điều kiện chỉ tiêu khả năng thanh toán tổng quát cao. Do vậy, TSNH sử dụng và quản lý tố sẽ đảm bảo được khả năng thanh toán nợ cho DN, từ đó tăng uy tín của DN đối với khách hàng và đối tác và có thể đem lại nhiều lợi ích cho DN trong tương lai. Thứ ba, sự vận động của TSNH phản ánh tình hình mua sắm vật tư, tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của DN.
Với những vai trò kể trên, có thể thấy TSNH đóng vai trò to lớn đối với tình hình SXKD của DN bất kể lĩnh vực kinh doanh của họ là gì. Do đó càng làm rõ tầm 10 quan trọng của việc tìm những biện pháp nhằm đánh giá, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH, từ đó tối ưu hiệu quả kinh doanh của DN. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN 1.