chương 1 luật doanh nghiệp 2014). Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Phân loại: Dựa trên bản chất kinh tế của chủ sở hữu thì có 3 loại hình doanh nghiệp : doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp hợp danh, doanh nghiệp tư nhân.
Dựa trên bản chất kinh tế của chủ sở hữu thì có 3 loại hình doanh nghiệp : Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn Doanh nghiệp hợp danh Doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân có chế độ trách nhiệm pháp lý vô hạn.
Doanh nghiệp hợp danh : Được quy định tại chương VI ( từ điều 172 đến 182) của Luật doanh nghiệp 2014.Theo đó, công ty hợp danh có những đặc điểm sau: Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp 4 danh).Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn. Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Chủ sở hữu công ty do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu.
Không được phát hành cổ phần để huy động vốn trong kinh doanh. Chuyển nhượng vốn góp được thực hiện theo quy định của pháp luật. Công ty cổ phần có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này.Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.
Cơ sở lý luận về tài sản và tài sản ngắn hạn trong DN 1. Khái niệm về tài sản Bất kỳ doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nào đều cần có các nguồn lực kinh tế, cơ sở vật chất để tạo điều kiện và phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Các nguồn lực, cơ sở vật chất này được gọi chung là tài sản của doanh nghiệp.Mishkin một tài sản là “Một vật sở hữu có chứa giá trị”. Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: “Tài sản là tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của nhà nước; có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hoá hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó.
5 Một TS có ba đặc tính không thể thiếu: lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai; do một thực thể hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên.” Theo Chuẩn mực số 04 – Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS: “Tài sản là một nguồn lực doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp”. Phân loại tài sản Thông thường tại các doanh nghiệp, tài sản được chia thành tài sản ngắn hạn (TSNH) và tài sản dài hạn (TSDH). a ) Tài sản ngắn hạn : Khái niện về tài sản ngắn hạn: “Là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời gian sử dụng, luân chuyển giá trị trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc trong một năm”.TS Đinh Văn Sơn , giáo trình tài chính doanh nghiệp – ĐHTM, NXB thống kê, trang 164 ) Là những tài sản có thời gian sử dụng ngắn trong vòng 12 tháng hoặc 1 chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp và thường xuyên thay đổi hình thái giá trị trong quá trình sử dụng. TSNH chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, thay đổi hình thái vật chất và chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm được sản xuất.
Do TSNH tồn tại ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh nên nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động đó diễn tả một cách liên tục. Nếu không sử dụng một cách hợp lý TSNH thì quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị gián đoạn, làm tăng chi phí và quá trình sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng xấu. b) Tài sản dài hạn (TSDH): Khái niện tài sản dài hạn: “Là những tài sản của doanh nghiệp có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị trên 1 năm hoặc qua nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp”.TS Đinh Văn Sơn , giáo trình tài chính doanh nghiệp – ĐHTM, NXB thống kê, trang 101). Trong doanh nghiệp TSDH bao gồm: - Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu 6 dài (hơn 12 tháng), tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, trong quá trình sử dụng bị hao ṃòn dần.
- Đầu tư tài chính dài hạn: Là những khoản đầu tư ra bên ngoài với mục đích kiếm lời có thời gian thu hồi trong vòng 1 năm trở lên như: đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, góp vốn liên doanh dài hạn, cho vay dài hạn. - Các khoản phải thu dài hạn: Là khoản tiền của doanh nghiệp đang bị các đối tượng khác tạm thời chiếm dụng, có thời gian thu hồi trên 1 năm như: phải thu khách hàng dài hạn, trả trước dài hạn cho người bán… - Bất động sản đầu tư: bao gồm nhà, đất đầu tư vì mục đích kiếm lời. Là giá trị toàn bộ quyền sử dụng đất, hoặc 1 phần của đất, nhà do doanh nghiệp nắm giữ với mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc bán trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. - TSDH khác: là giá trị các tài sản ngoài các tài sản kể trên và có thời gian thu hồi và thanh toán trên 1 năm như: chi phí trả trước dài hạn, chi phí đầu tư xây dựng cơ bản, ký cược, ký quỹ dài hạn.
Phân loại tài sản ngắn hạn Kết cấu tài sản ngắn hạn là tỷ trọng của từng bộ phận tài sản ngắn hạn trong tổng giá trị tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp trong một thời kỳ hoặc tại một thời điểm nhất định. Tùy theo ngành nghề, lĩnh vực, quy mô và phương thức kinh doanh của doanh nghiệp mà kết cấu tài sản của doanh nghiệp sẽ khác nhau. Theo yêu cầu quản lý tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp có thể phân loại tài sản ngắn hạn theo các tiêu thức sau: a) Căn cứ vào hình thái biểu hiện của tài sản, TSNH của doanh nghiệp bao gồm: Tài sản là vật tư hàng hóa bao gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa,. Tài sản phi hàng hóa bao gồm: Tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán có tính thanh khoản cao, tiền trong thanh toán.
7 b) Căn cứ vào các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, TSNH bao gồm: Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: Nguyên vật liệu dự trữ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ lao động,. dự trữ để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể được tiến hành thường xuyên, liên tục. Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: Sản phẩm dở dang nhằm đảm bảo cho việc sản xuất được liên tục. Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: Thành phẩm, hàng hóa, tài sản bằng tiền, các khoản phải thu.
nhằm đảm bảo cho việc tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng được thường xuyên. c) Căn cứ vào chế độ quản lý tài chính hiện hành, TSNH bao gồm: Tài sản bằng tiền: Tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển,… Đây là tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong doanh nghiệp, chính vì vậy doanh nghiệp cần duy trì một cách hợp lý, không quá nhỏ để đảm bảo khả năng thanh toán nhưng cũng không quá lớn dẫn đến lãng phí, ứ đọng vốn của doanh nghiệp. Các khoản phải thu ngắn hạn: phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản phải thu ngắn hạn khác… là một loại tài sản rất quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại. Muốn mở rộng mạng lưới tiêu thụ và tạo dựng mối quan hệ lâu dài, doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng, chính vì vậy đã phát sinh những khoản tín dụng thương mại.
Tín dụng thương mại có thể giúp doanh nghiệp nâng cao doanh số, từ đó tăng doanh thu, nhưng cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn khi doanh nghiệp không thể hoặc khó thu hồi nợ từ khách hàng. Hàng tồn kho: Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa. Trong quá trình chu chuyển tài sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại một bộ phận tài sản là vật tư hàng hóa tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Hàng tồn kho là các loại vật tư hàng hóa mà doanh nghiệp mua vào hay sản xuất ra để chờ tiếp tục xuất dùng vào sản xuất hoặc chờ để bán.
8 Kết cấu hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa.Tồn kho nguyên vật liệu giúp cho doanh nghiệp chủ động trong sản xuất và tiêu thụ.