CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TSNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT CHUNG TÀI SẢN NGẮN HẠN 1. Khải niệm tài sản ngắn hạn: -Tài sản của doanh nghiệp: Theo Luật Doanh nghiệp, 2014: “Tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó”[16, tr2]. -Phân loại tài sản trong doanh nghiệp Có nhiều cách để phân loại tài sản như: + Theo hình thái biểu hiện, tài sản trong doanh nghiệp bao gồm: Tài sản hữu hình và Tài sản vô hình.
+ Theo nguồn hình thành, tài sản bao gồm: Tài sản được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu và Tài sản được tài trợ bởi vốn nợ. +Theo đặc điểm về thời gian sử dụng, tài sản gồm: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn. + Theo tính chất tuần hoàn và luân chuyển, tài sản được chia thành: Tài sản cố định và Tài sản lưu động. -Tài sản ngắn hạn “Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo” (Lê Thị Xuân, chủ biên, 2016, tr.
“Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyển sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật(vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu. 5 Cũng như tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sản xuất tài sản ngắn hạn được thể hiện dưới hình thái như nguyên vật liệu, vật đóng gói, phụ tùng thay thế.
Trong lĩnh vực lưu thông nó tồn tại thay thế luân phiên cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục. “Tài sản ngắn hạn hay cũng gọi là tài sản lưu động là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả các loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng 1 năm hay trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có tính thanh khoản khác. “TSNH là những tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệpcó chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng, những tài sảncó khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc kế toán năm được gọi là TSNH. Đối với doanh nghiệpcó chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng, những tài sảncó khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 1 chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc kế toán năm được gọi là TSNH” (Ngô Thế Chi, 2010). Tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp hiện nay rất quan trong bởi nó thường được các chủ doanh nghiệp sử dụng rất thường xuyên. Những tài sản ngắn hàng này thường được dùng để chi trả các chi phí phát sinh khác nhau trong quá trình vận hành của các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, tài sản ngắn hạn cũng là thước đo phán ảnh tình hình biến động về kinh doanh của một doanh nghiệp. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn được phân bồ đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bão cho quá trình sản xuất kinh đoanh được diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản (T7. 122, Giáo trình phân tích báo cáo tài chính PGS TS Nguyễn Năng Phúc). Do đó, tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp cõ các đặc điểm sau: 6 - Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn là một bộ phận của vốn sản xuất nên nó vận động và luân chuyển không ngừng trong mọi giai đoạn của quá trình sản - Tài sản ngắn hạn cõ thể dễ đàng chuyển hóa từ đạng vật chất sang tiền tệ nên cũng vận động rất phức tạp và khó quân lý. Tài sãn ngắn hạn thay đổi hình thái vật chất, tài sản ngắn hạn chuyển toàn bộ giá trị vào chỉ phí sản xuất trong. Phân loại tài sản ngắn hạn. Trong các doanh nghiệp vấn đề tổ chức TSNH có một vai trò quan trọng, doanh nghiệp quản lý và sử dụng TSNH.
TSNH được quay vòng nhanh, doanh nghiệp tổ chức tốt khâu mua sắm, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như vậy nhất định doanh nghiệp đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn. Cho nên để quản lý sử dụng TSNH tốt thì việc phân loại TSNH là rất cần thiết. Các nhóm được phân loại cụ thể như sau: 1. Phân loại theo hình thái biểu hiện * Tiền và các khoản tương đương tiền - Tiền và những khoản tương đương tiền: như tiền mặt (có thể là đơn vị ngoại tệ hoặc VND), tiền gửi ngân hàng, kho bạc và tiền đang chuyển.
- Tuy nhiên, đây cũng là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lợi bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm vốn lại là một câu hỏi quan trọng cần nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết, không quá nhỏ để đảm bảo khả năng thanh toán cũng như không quá lớn để tránh lãng phí, ứ đọng vốn trong doanh nghiệp. - Ngoài ra thì cũng bao gồm những khoản mà tương đương với tiền như giá trị chứng khoán có thời gian đáo hạn trong vòng 3 tháng, vàng, bạc, đá quý hay là kim khí) * Đầu tư tài chính ngắn hạn: Đây là các khoản đầu tư ra bên ngoài nhằm mục đích kiếm lời có thời gian thu hồi ngắn. Những khoản đầu tư này có thể là - Khoản đầu tư góp vốn liên doanh ngắn hạn - Các khoản đầu tư cho vay ngắn hạn 7 - Các khoản đầu tư vào chứng khoán trong thời gian ngắn. * Các khoản phải thu ngắn hạn: Đây được coi là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp nhưng mà đang bị các cá nhân hoặc đơn vị khác chiếm dụng một cách hợp pháp hoặc bất hợp pháp.
Và khi đó doanh nghiệp phải có trách nhiệm trong việc thu hồi về trong khoảng 12 tháng đầu với các khoản như: - Khoản phải thu từ khách hàng - Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ - Các khoản thu nội bộ - Các khoản thu khác nhau của doanh nghiệp - Số lượng khoản phải thu khó đòi * Hàng tồn kho: đây cũng là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp nhưng là đang trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc được chở để tiêu thụ. Đây là bộ phận tài sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, bao gồm: - Hàng đang mua khi đang đi đường - Nguyên vật liệu - Dụng cụ - Công cụ - Sản phẩm đang làm dở ( những chi phí đã phát sinh cho việc sản xuất) - Hàng tồn kho dự phòng - Số hàng hóa và hàng gửi đi bán. * Tài sản ngắn hạn khác: Nhóm cuối cùng chính là tài sản còn lại sau khi đã trừ những tài sản phía trên. Tính tài sản ngắn hạn Để tính TS ngắn hạn thì bạn có thể tìm thông tin, đối chiếu trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
(trường hợp khi tài liệu có mục tổng tài sản ngắn hạn) 8 Còn nếu bạn gặp trong trường hợp mà bảng cân đối kế toán không bao gồm mục tổng TS ngắn hạn trong đó, thì bạn cần phải kiểm tra kỹ theo từng dòng trên bảng cân đối kế toán. Khi tiến hành cộng tất cả các tài khoản đáp ứng theo định nghĩa tài sản ngắn hạn để có thể có được số tổng cần tìm. Những thông số để có thể nhận ra tài sản ngắn hạn thì bạn có thể giữa các nhóm phân chia của tài sản ngắn hạn. Khi thực hiện việc tính giá TS ngắn hạn của doanh nghiệp thì cần phải chú ý tới hai điều sau: Nhân viên kế toán chỉ có thể tiến hành tính giá tài sản ngắn hạn khi tài sản là ngoại tệ.
Vì do trong trường hợp như thế này, tài sản sẽ được coi như là một loại hàng hóa đặc biệt mà các đơn vị có thể sử dụng để thực hiện các giao dịch mua bán. Ngoài ra thì các khoản thu ngắn hạn cũng không tiến hành công tác tính giá của TS ngắn hạn. Nhưng nếu như nhân viên gặp phải trường hợp thu hồi các khoản phải thu khó đòi thì bạn cần phải lập dự phòng để giá trị tài sản không phản ảnh ra giá trị cao hơn thực tế có thể của tài sản. Tài sản ngắn hạn đóng vai trò rất quan trọng trong kinh doanh bởi đó là những tài sản được sử dụng trong cho hoạt động hàng ngày và chi trả cho các chi phí phát sinh.
Phân loại theo vai trò của TSNH trong quá trình sản xuất kinh doanh * Tài sản ngắn hạn dự trữ: - Nguyên vật liệu chính hay bán thành phẩm mua ngoài: là những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào sản xuất sẽ cấu tạo nên thực thể sản phẩm. - Nhiên liệu: là những loại dự trữ cho sản xuất có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất như than, củi, xăng dầu. - Phụ tùng thay thế: là giá trị của những chi tiết, phụ tùng, linh kiện máy móc thiết bị dự trữ phục vụ cho việc sửa chữa hoặc thay thế những bộ phận của máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải. - Vật liệu đóng gói: là những vật liệu dùng để đóng gói trong quá trình sản xuất như giấy gói, hộp.
9 - Công cụ lao động nhỏ có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giữ nguyên hình thái vật chất nhưng giá trị nhỏ, không đủ tiêu chuẩn tải sản cổ định. * Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: bao gồm hàng mua đang đi đường, sản phẩm dở dang: - Hàng mua đang đi đường: là giá trị hàng hóa mà doanh nghiệp mua hoặc đặt mua đã thanh toán và đang trên đường vận chuyển chưa được nhập kho.