CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tài sản ngắn hạn ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là tất cả những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời hạn sử dụng, luân chuyển và thu hồi vốn trong 1 năm (nếu chu kỳ kinh doanh < 1 năm) hoặc trong vòng một chu kỳ kinh doanh (nếu chu kỳ kinh doanh > 1 năm).TS Lưu Thị Hương, TS.
Ngô Thị Quyên đồng chủ biên (2019), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Đại học Thăng Long) Chu kỳ kinh doanh được hiểu là khoảng thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốn vào kinh doanh dưới hình thái tiền tệ. Tùy theo lĩnh vực kinh doanh mà chu kỳ kinh doanh của mỗi doanh nghiệp khác nhau. Đối với doanh nghiệp sản xuất, đó là khoảng thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp bỏ tiền mua vật tư, chế biến vật liệu đó thành sản phẩm và bán được sản phẩm đó. Đối với doanh nghiệp thương mại, chu kỳ kinh doanh được hiểu là khoảng thời gian kể từ khi bỏ tiền mua hàng hóa và đem bán được hàng hóa đó.TS Lưu Thị Hương, TS.
Ngô Thị Quyên đồng chủ biên (2019), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Đại học Thăng Long) Trên bảng cân đối kế toán, tài sản ngắn hạn thường bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, tài sản tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác, Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong quá trình chuyển đổi thành tiền. Tài sản tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời gian thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kì kinh doanh (như Tín phiếu kho Bạc, kì phiếu kinh doanh,…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (như cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm. Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời gian thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm.
Hàng tồn kho: Bao gồm các nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, sản phẩm, hàng gửi bán, hàng mua đang đi đường… Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nước, TSNH khác. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn được phân bổ ở tất cả khác khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, ổn định, tránh lãng phí và tổn thất do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chính vì vậy TSNH có những đặc điểm sau: Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển đổi từ dạng vật chất sang tiền tệ để thanh toán hay chi tiêu mà không chịu chi phí lớn. Tiền mặt là TSNH có tính thanh khoản cao nhất vì nó thường được dùng để giao dịch, đổi lấy hàng hóa với giá trị gần như không thay đổi.
Tuy nhiên đặc điểm này đồng nghĩa với việc TSNH vận động phức tạp và khó quản lý. Tài sản ngắn hạn có thời gian luân chuyển nhanh chóng. Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp suất ăn công nghiệp, đặc thù của sản phẩm kinh doanh là thực phẩm sử dụng ngay nên quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra trong thời gian ngắn, thường là trong ngày. Do đó thời gian một vòng quay TSNH thường ngắn hơn so với các doanh nghiệp trong lĩnh vực khác.
Tài sản ngắn hạn luôn vận động và chuyển hóa không ngừng, tham gia vào tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn phục vụ cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, từ khâu nhập nguyên vật liệu, nhiên liệu đầu vào đến khâu sản xuất, chế biến thành sản phẩm và đưa đến tay người tiêu dùng. Vì đặc điểm này nên TSNH cần tồn tại dưới nhiều hình thức biểu hiện khác nhau để đáp ứng cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, thuận tiện hơn. Toàn bộ giá trị của TSNH thường được dịch chuyển một lần vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu và thu hồi thông qua doanh thu bán hàng.
Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, TSNH lại thay đổi hình thái biểu hiện, TSNH chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì TSNH hoàn thành một vòng chu chuyển. Phân loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Về mặt bản chất, TSNH bao gồm các TS dự kiến được chuyển đổi thành tiền trong vòng 1 năm hoặc 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. TSNH trong doanh nghiệp thường được phân loại theo 2 cách chính: phân loại theo hình thái biểu hiện hoặc phân loại theo tính chất luân chuyển của TS.
Phân loại theo hình thái biểu hiện Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Tiền mặt là những đồng tiền giấy, tiền kim loại, séc,… đang lưu giữ tại doanh nghiệp. Tiền gửi ngân hàng là toàn bộ số tiền doanh nghiệp gửi tại các ngân hàng, kho bạc nhà nước và các tổ chức 2 Thư viện ĐH Thăng Long tài chính. Tiền đang chuyển là tiền mà doanh nghiệp đã gửi vào ngân hàng, kho bạc, các tổ chức tài chính nhưng chưa nhận được giấy báo có.
Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro. Hàng tồn kho: Hàng tồn kho bao gồm hàng mua về để bán, thành phẩm lưu kho, thành phẩm gửi đi bán, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ lưu kho… HTK thường chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng TS của doanh nghiệp, việc thiếu hụt dự trữ sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh. Tuy nhiên, nếu lượng dự trữ dư thừa quá nhiều cũng khiến doanh nghiệp đối mặt với những khó khăn: chi phí lưu kho tăng, dự trữ bị hư hỏng,… Các khoản phải thu: Đây là các khoản doanh nghiệp bị tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp khác chiếm dụng. Các khoản này bao gồm: phải thu khách hàng, ứng trước cho người bán, phải thu khác… Việc cung cấp tín dụng cho khách hàng là một hoạt động không thể thiếu giúp lượng tiêu thụ hàng hóa – dịch vụ của doanh nghiệp phát triển hơn, tuy nhiên doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ trước khi cung cấp tín dụng cho khách hàng, tránh tình trạng nợ khó đòi.
Đầu tư chứng khoán ngắn hạn: Bao gồm các chứng khoán ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu tư ngắn hạn… Đây là TSNH có tính thanh khoản cao, có khả năng sinh lời. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này. Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước và thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn… Các khoản tạm ứng là những khoản tiền doanh nghiệp đã thanh toán trước cho người bán, nhà cung cấp hay các đối tác khác. Các khoản chi phí trả trước ngắn hạn là những khoản chi phí mà doanh nghiệp đã chi trả trước, nhưng sẽ được ghi nhận vào chi phí trong kỳ kế toán sau.
Các khoản ký cược, ký quỹ ngắn hạn là những khoản tiền mà doanh nghiệp đặt cọc cho các bên thứ ba để đảm bảo họ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Phân loại tài sản ngắn hạn theo lĩnh vực và thời gian luân chuyển: Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: Là toàn bộ TSNH tồn tại trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, nguyên vật liệu lưu kho, công cụ dụng cụ lưu kho,… Các mục này đều quan trọng trong 3 việc đảm bảo rằng doanh nghiệp có đủ tài trợ ngắn hạn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả. Tiền mặt tại quỹ là số tiền mặt mà doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp, dùng cho các nhu cầu chi tiêu hàng ngày như chi phí vận hành hay những giao dịch nhỏ Tiền gửi ngân hàng là số tiền mà doanh nghiệp giữ trong các tài khoản ngân hàng, có thể rút ra một cách dễ dang khi cần thiết. Tiền gửi ngân hàng cũng có thể đem lại lợi ích từ lãi suất hoặc các chương trình khác của ngân hàng Tiền đang chuyển là các khoản tiền đang ở trong quá trình chuyển đổi từ một nơi sang nơi khác.
Đây có thể là khoản tiền trong các giao dịch thanh toán, chuyển khoản hoặc các khoản tiền đang di chuyển trong hệ thống tài chính của doanh nghiệp Nguyên vật liệu lưu kho là giá trị của nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã mua và giữ trong kho để sử dụng trong quá trình sản xuất. Nguyên vật liệu lưu kho cũng được xem xét như một phần của TSNH, được dự trữ để đảm bảo sẵn sàng cung ứng đủ hàng hóa cho việc bán ra và đáp ứng nhanh chóng với nhu cầu thị trường Công cụ dụng cụ lưu kho bao gồm các giá trị của các công cụ, dụng cụ, máy móc và thiết bị mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình lưu trữ và quản lý nguyên vật liệu và sản phẩm thành phẩm Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: Là toàn bộ TSNH tồn tại trong khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các loại chi phí sản xuất dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển,… Các TSNH này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất và hiệu quả tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp. Bán thành phẩm là sản phẩm dở dang mới chỉ hoàn thành được một hoặc một số công đoạn (trừ công đoạn cuối cùng) của quá trình sản xuất. Các loại chi phí sản xuất dở dang bao gồm giá trị của nguyên vật liệu, lao động và các chi phí khác đã được tiêu thụ trong quá trình sản xuất, nhưng sản phẩm chưa hoàn thiện hoặc chưa được bán.