Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Vimeco Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Vimeco CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP Tổng quan về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Khái niệm của tài sản ngắn hạn Theo PGS.TS Nguyễn Năng Phúc: “Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn hạn trong thời gian 12 tháng hoặc một chu kì kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được thể hiện trên bảng cân đối kế toán bao gồm: Tiền mặt, chứng khoán thanh khoản cao, khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu khách hàng và khoản dự trữ hàng tồn kho” [7, tr. Theo định nghĩa tại điều 111, mục 2 thống tư 200/2014/TT-BTC, Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Tài sản ngắn hạn là biểu hiện bằng tiền của giá trị những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng thu hồi luân chuyển thường là một năm hoặc là một chu kỳ kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn thường được luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm tài sản bằng tiền, các chứng khoán có tính thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho. (Giáo trình “Tài chính doanh nghiệp”, tác giả PGS.TS Lưu Thị Hương - PGS.TS Vũ Duy Hào, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2005) Như vậy, từ định nghĩa và cách phân loại trên của tài sản, có thể hiểu: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: Tài sản bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác”. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Để quá trình kinh doanh được diễn ra liên tục, không bị gián đoạn với chi phí bỏ ra là thấp nhất, tài sản ngắn hạn được các nhà quản trị doanh nghiệp tìm cách phân bổ theo tỷ lệ hợp lý theo từng giai đoạn, gắn liền với mục tiêu cũng như định hướng phát triển của doanh nghiệp đó.
Vì vậy, tài sản ngắn hạn có các đặc điểm: Thứ nhất, chu kỳ luân chuyển TSNH thường trong vòng 1 năm hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh. Cụ thể, các khoản mục như tiền và khoản tương đương tiền, HTK, phải thu ngắn hạn sẽ được sử dụng gói gọn trong một kỳ kinh doanh. Khác biệt với TSDH, 1 Thư viện ĐH Thăng Long như nhà xưởng, máy móc sẽ được sử dụng lâu dài, trích lập khấu hao mỗi năm, qua nhiều chu kỳ. Thứ hai, TSNH được biểu hiện bằng nhiều hình thái khác nhau, với mỗi hình thái có những mục đích khác nhau như giúp chu trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả, mức độ tín dụng thương mại của doanh nghiệp.
Cụ thể, tiền và khoản tương đương tiền giúp đảm bảo khả năng thanh toán, hàng tồn kho đảm bảo toàn bộ chu trình kinh doanh được trơn tru, hay các chính sách phải thu ngắn hạn quyết định đến tình hình kinh doanh kỳ tới của doanh nghiệp. Thứ ba, tài sản ngắn hạn không giữ nguyên vật chất ban đầu. Cụ thể, với khoản mục hàng tồn kho, khi DN tiến hành nhập nguyên vật liệu để sản xuất hàng hóa, hàng tồn kho qua một chu kỳ kinh doanh sẽ biến thành thành phẩm để bán ra thị trường Vai trò của tài sản ngắn hạn TSNH là yếu tố quan trọng không thể bỏ qua khi đi vào hoạt động một doanh nghiệp hay nói các khác, TSNH là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh. Bởi vì TSNH là tài sản được sử dụng trong các hoạt động hàng ngày và chi trả các chi phí phát sinh khác.
Tài sản ngắn hạn là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Để tiến hành sản xuất, ngoài tài sản cố định như là: máy móc, thiết bị, nhà xưởng,… doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu,… phục vụ cho quá trình sản xuất. Như vậy, tài sản ngắn hạn là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh. Đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn, ví dụ : Tiền mặt và các khoản tương đương tiền được sử dụng để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, chi phí hoạt động,… Tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, bổ sung nguồn vốn cho doanh nghiệp như các khoản phải thu ngắn hạn được sử dụng để thu hồi vốn từ khách hàng, bổ sung nguồn vốn cho doanh nghiệp.
TSNH giúp doanh nghiệp đảm bảo được mối quan hệ thân thiết với khách hàng, đặc biệt là các khách hàng lâu năm có quy mô doanh nghiệp lớn thông qua chính sách tín dụng thương mại. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn chính là nguồn vốn mà doanh nghiệp thường phải chi ra để sử dụng trong các hoạt động mua sắm, bảo trì các thiết bị, máy móc. Cùng với đó là việc mua sắm nguyên liệu, hàng hóa nhằm mục đích sử dụng cho công việc kinh doanh của một doanh nghiệp. Chính vì thế, tài sản ngắn hạn có thể coi như một điều kiện tiên quyết của tất cả quá trình sản xuất, kinh doanh của một doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp nếu có khối lượng tài sản 2 ngắn hạn đủ sẽ đảm bảo được các hoạt động kinh doanh cũng như quyết định được quy mô phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay. Phân loại tài sản ngắn hạn Để quản lý tài sản ngắn hạn được tốt cần phải phân loại tài sản ngắn hạn. Dựa theo những tiêu thức khác nhau có thể phân loại tài sản ngắn hạn thành nhiều loại khác nhau. Thông thường có một số cách phân loại chủ yếu sau: Phân loại theo vai trò từng loại tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh Phân loại theo vai trò từng loại tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn bao gồm: Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm các khoản như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên – nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán.
Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển và các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất. Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm các thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản phải thu khách hàng. Phương pháp này cho phép biết được kết cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp theo vai trò. Từ đó, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ tài sản ngắn hạn trong các khâu của quá trình luân chuyển tài sản ngắn hạn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá trình kinh doanh.
Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu tài sản ngắn hạn hợp lý tăng tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn. Phân loại tài sản ngắn hạn theo khoản trong bảng cân đối kế toán Phân loại theo các khoản trong bảng cân đối kế toán, tài sản ngắn hạn bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền ở đây được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không nhiều rủi ro trong chuyển đổi thanh toán. 3 Thư viện ĐH Thăng Long Các khoản đầu tư ngắn hạn: Nếu một Công ty có tiền nhàn rỗi trên bảng cân đối kế toán của mình thì chi phí cơ hội của việc đầu tư tiền nhàn rỗi đó sẽ bị loại bỏ.
Do đó, các Công ty lựa chọn đầu tư và sử dụng số tiền nhàn rỗi này vào các hoạt động kinh doanh ngắn hạn khác nhau như ủy thác đầu tư và tiền gửi không kỳ hạn. Tóm lại, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn là các khoản đầu tư ngắn hạn (sau khi đã trừ đi dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh), bao gồm: Chứng khoán nắm giữ vì mục đích kinh doanh, các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn và các khoản đầu tư khác có kỳ hạn còn lại không quá 12 tháng kể từ thời điểm báo cáo. Các khoản phải thu ngắn hạn: Các khoản phải thu thể hiện số tiền mà một Công ty đã cung cấp hoặc sử dụng cho một sản phẩm hoặc dịch vụ nhưng khách hàng chưa thanh toán có kỳ hạn thu hồi còn lại không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo (sau khi trừ đi dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi). Đây được coi là tài sản ngắn hạn nếu chúng có thể được hoàn trả trong vòng một năm.
Nếu một Công ty bán hàng bằng cách cung cấp cho khách hàng thời hạn tín dụng dài hơn, một số khoản phải thu này có thể không được tính vào tài sản ngắn hạn. Các khoản phải thu ngắn hạn gồm: Phải thu của khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch có tính chất mua bán, như: phải thu về bán hàng, cung cấp dịch vụ, thanh lý, nhượng bán tài sản (TSCĐ, BĐSĐT, các khoản đầu tư tài chính) giữa doanh nghiệp và người mua (là đơn vị độc lập với người bán, gồm cả các khoản phải thu giữa Công ty mẹ và Công ty con, liên doanh, liên kết).