CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP. Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố chủ yếu thể hiện năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác tài sản cố định là "hệ thống xương" và “bắp thịt” của quá trình kinh doanh. Vì vậy trang thiết bị hợp lý, bảo quản và sử dụng tốt tài sản cố định có ý nghĩa quyết định đến việc tăng năng suất lao động, tăng chất lượng kinh doanh, tăng thu nhập và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tài sản cố định có vai trò hết sức quan trọng và bất kỳ hoạt động kinh doanh nào muốn diễn ra đều phải có tài sản cố định. Việc sử dụng tài sản cố định hiệu quả có một ý nghĩa hết sức quan trọng, nó cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của tài sản cố định góp phần làm giảm tỷ suất chi phí tăng doanh lợi cho doanh nghiệp. Mặt khác sử dụng tài sản cố định hợp lý và có hiệu quả là một điều kiện đảm bảo giữ gìn hàng hoá sản phẩm an toàn và cũng chính là điều kiện bảo quản tài sản cố định. Một số khái niệm về tài sản cố định và hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
Tài sản cố định của doanh nghiệp. Tài sản cố định. Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình SXKD của doanh nghiệp như là máy móc, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển bốc dỡ, các công trình kiến trúc, bằng phát minh, sáng chế, bản quyền… TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD. TSCĐ là cơ sở vật chất của đơn vị.
Nó phản ánh năng lực sản xuất hiện có và trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động của doanh nghiệp. TSCĐ là một trong yếu tố quan trọng tạo ra khả năng tăng cường bền vững, tăng năng suất lao động, từ đó giảm chi phí giá thành dịch vụ; Đặc điểm của tài sản cố định trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động. Trong quá trình đó hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định là không thay đổi. Song giá trị của nó lại được chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra.
Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí SXKD của doanh nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được tiêu thụ. Tiêu chuẩn để nhận biết một tài sản cố định. Theo thông lệ quốc tế. ĐỖ THỊ DIÊN SV.
Phùng Thu Hằng – K45H3 Luan van 5 Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Học viện Tài Chính, xuất bản năm 2008, những tư liệu lao động đạt đủ các tiêu chuẩn sau thì được ghi nhận là TSCĐ: Tiêu chuẩn về thời gian: có thời gian sử dụng từ một năm trở lên. Tiêu chuẩn về giá trị: phải có giá trị lớn, mức giá cụ thể được Chính phủ quy định phù hợp với tình hình kinh tế trong từng thời kỳ. Đây là tiêu chuẩn định lượng, ngoài ra tùy theo từng quốc gia còn có thể đưa ra các tiêu chuẩn định tính nữa. Theo thông tư 203 của Bộ Tài Chính.
Theo Điểm 1 Điều 3 “Tiêu chuẩn để nhận biết tài sản cố định” trong thông tư của Bộ Tài Chính số 203 ngày 20 tháng 10 năm 2009 (hướng dẫn chế độ sử dụng quản lý và trích khấu hao tài sản cố định) quy định: Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên; Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 10.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên. Nguyên giá của tài sản cố định. Theo thông tư 203 ngày 20 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài Chính thì nguyên giá của tài sản cố định được định nghĩa như sau: Nguyên giá tài sản cố định hữu hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có tài sản cố định hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Nguyên giá tài sản cố định vô hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có tài sản cố định vô hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự tính.
Khấu hao tài sản cố định. Khấu hao tài sản cố định: là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng của tài sản cố định. Hao mòn tài sản cố định. ĐỖ THỊ DIÊN SV.
Phùng Thu Hằng – K45H3 Luan van 6 Hao mòn tài sản cố định: là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của tài sản cố định do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật. trong quá trình hoạt động của tài sản cố định. Thời gian sử dụng tài sản cố định. Thời gian sử dụng tài sản cố định: là thời gian doanh nghiệp dự tính sử dụng tài sản cố định vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc xác định theo số lượng, khối lượng sản phẩm dự kiến sản xuất được từ việc sử dụng tài sản cố định theo quy định hiện hành, ở điều kiện bình thường, phù hợp với các thông số kinh tế - kỹ thuật của tài sản cố định và các yếu tố khác có liên quan đến sự hoạt động của tài sản cố định.
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng đồng thời là hoạt động tạo ra doanh thu của doanh nghiệp. Doanh thu có ý nghĩa lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Doanh thu là nguồn tài chính tiềm năng quan trọng để trang trải các khoản chi phí để hoạt động kinh doanh, là nguồn quan trọng để các doanh nghiệp có thể thực hiện được các nghĩa vụ đối với Nhà nước như nộp các khoản thuế theo luật định, là nguồn để có thể tham gia góp vốn cổ phần, tham gia liên doanh, liên kết với các đơn vị khác. Khi doanh thu không đủ đảm bảo các khoản chi phí bỏ ra, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn về tài chính.
Nếu tình trạng này kéo dài, sẽ làm cho doanh nghiệp không đủ sức cạnh tranh trên thị trường và sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh. Lợi nhuận là mục đích của mọi ngành nghề, mọi nhà kinh doanh. Lợi nhuận là phần thưởng cho sự lao động, sáng tạo, năng động của con người trong quá trình sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp mang lại.
Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh hiệu quả toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, việc giảm chi phí sản xuất giá thành sản phẩm sẽ làm lợi nhuận tăng lên một cách trực tiếp khi các điều kiện khác không đổi. Do đó, lợi nhuận là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định phản ánh một đồng giá trị tài sản cố định làm ra thì được bao nhiêu đồng giá trị sản lượng hoặc lợi nhuận.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định được thể ThS. ĐỖ THỊ DIÊN SV. Phùng Thu Hằng – K45H3 Luan van 7 hiện qua các chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu này nêu lên các đặc điểm, tính chất, cơ cấu, trình độ phổ biến, đặc trưng cơ bản của hiện tượng nghiên cứu. Chỉ tiêu chất lượng này thể hiện dưới hình thái giá trị về tình hình sử dụng TSCĐ trong một thời gian nhất định.
Trong SXKD thì chỉ tiêu này là quan hệ so sánh giữa giá trị sản lượng đã tạo ra với giá trị TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ; hoặc là quan hệ so sánh giữa lợi nhuận thực hiện với giá trị TSCĐ bình quân sử dụng trong kỳ. Như vậy hiệu quả sử dụng tài sản cố định có thể được hiểu như sau: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá trình đầu tư, khai thác sử dụng tài sản cố định vào sản xuất và số tài sản cố định đó sử dụng để đạt kết quả đó. Nó thể hiện lượng giá trị sản phẩm, hàng hóa lao vụ sản xuất ra trên một đơn vị tài sản cố định tham gia vào sản xuất hay tài sản cố định cần tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh để đạt được một lượng giá trị sản phẩm, hàng hóa lao vụ, dịch vụ. Quan niệm về tính hiệu quả sử dụng tài sản cố định phải được hiểu cả trên hai khía cạnh: Với số tài sản cố định hiện có, doanh nghiệp có thể sản xuất thêm một lượng sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Đầu tư thêm tài sản cố định một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh thu tiêu thụ với yêu cầu bảo đảm tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng TSCĐ. Nội dung lý thuyết liên quan đến hiệu quả sử dụng tài sản cố định. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định. - Trước hết nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định sẽ góp phần làm tăng doanh thu cũng đồng thời tăng lợi nhuận.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định sẽ nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn của doanh nghiệp: muốn có tài sản cố định thì doanh nghiệp cần có vốn. Khi hiệu quả sử dụng tài sản cố định cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã làm cho đồng vốn đầu tư sử dụng có hiệu quả và sẽ tạo cho doanh nghiệp một uy tín tốt để huy động vốn.