CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1- Tổng quan về Ngân hàng Trung ương và hoạt động của các Ngân hàng thương mại 1.1- Ngân hàng Trung ương Hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới đã hình thành từ thế kỷ thứ XVI, nhưng NHTW ra đời từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. [14] Chức năng đầu tiên trước đây của NHTW là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM và cho vay đối với Chính phủ. Khi nền kinh tế phát triển, thì hệ thống tài chính ngân hàng cũng phát triển theo, ngược lại khi nền kinh tế bất ổn thì hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động sẽ khó khăn và kém an toàn. Nền kinh tế bất ổn, lạm phát gia tăng có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân thuộc về yếu tố tiền tệ.
Do đó, NHTW được bổ sung chức năng ổn định giá trị đồng nội tệ và bảo đảm cho hệ thống tài chính - ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh. [1] Quá trình phát triển cho thấy NHTW ngày càng có vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Chính vì thế mà ngày nay nhiều nước không ngừng quan tâm việc củng cố, tăng cường vai trò, vị trí của NHTW theo hướng hiện đại.1- Mục tiêu của Ngân hàng Trung ương Hoạt động của bất kỳ NHTW nào trên thế giới cũng nhằm theo đuổi một số mục tiêu bao gồm : (i) Lạm phát thấp và ổn định; (ii) Tăng trưởng kinh tế; (iii) Tạo công ăn việc làm; (iv) Đảm bảo an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng….Tuy nhiên, lý luận và thực tiễn của hầu hết các nước cho thấy NHTW không thể đạt được đồng thời cùng một lúc tất cả các mục tiêu trên. -14- Cụ thể, (i) nếu NHTW theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và tạo nhiều công ăn việc làm, thất nghiệp thấp thì chỉ số lạm phát sẽ có xu hướng tăng lên, ít nhất là trong trung và dài hạn; và khi lạm phát tăng lên, sẽ tác động đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến tính ổn định, an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng.
(ii) Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước biến đổi. Do đó, khi có nhiều mục tiêu đòi hỏi NHTW phải thận trọng và linh hoạt trong việc lựa chọn mục tiêu và xác định thứ tự ưu tiên mục tiêu. NHTW với nhiều mục tiêu là mô hình NHTW truyền thống. Xu hướng ngày nay, NHTW hiện đại chỉ theo đuổi mục tiêu duy nhất và cũng là mục tiêu cuối cùng.
NHTW hiện đại với mục tiêu duy nhất (mục tiêu cuối cùng) có ưu điểm hơn so với mô hình NHTW với nhiều mục tiêu, đó là : (i) NHTW sẽ lựa chọn công cụ CSTT phù hợp tác động để đạt được mục tiêu này; (ii) sẽ đánh giá cụ thể được hiệu quả hoạt động của NHTW thông qua điều hành CSTT nhằm đạt được mục tiêu duy nhất; (iii) tạo điều kiện cho NHTW tập trung vào mục tiêu duy nhất này. [34] Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là để đạt được mục tiêu cuối cùng, NHTW không thể tác động một cách trực tiếp mà là tác động gián tiếp thông qua các công cụ CSTT. Mục tiêu cuối cùng thường là mục tiêu trung hạn và có một độ trễ nhất định (từ 6 tháng đến 12 tháng). Hiện nay mục tiêu cuối cùng của CSTT được NHTW các nước lựa chọn đó là ổn định giá cả, lạm phát thấp và ổn định, từ đó sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế tạo công việc làm; và một tác động tích cực quan trọng đó là với mục tiêu cuối cùng đạt được giá cả ổn định, lạm phát thấp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Ngân hàng Trung ương đối với hoạt động của hệ thống NHTM.
Trong quá trình truyền dẫn CSTT để đạt được mục tiêu cuối cùng này, NHTW phải sử dụng các mục tiêu trung gian. Mục tiêu trung gian là các biến số tiền tệ có quan hệ với các biến số kinh tế vĩ mô (Tăng trưởng -15- kinh tế, ổn định giá cả,…). Chỉ tiêu sử dụng làm mục tiêu trung gian gồm : lượng tiền cung ứng; lãi suất thị trường; tổng khối lượng tín dụng; tỷ giá… Mục tiêu hoạt động (hay mục tiêu công cụ) là các biến tiền tệ mà NHTW kiểm soát và dự báo trước được tác động thông qua việc sử dụng các công cụ CSTT nhằm đạt được mục tiêu trung gian, từ đó tác động đến mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu hoạt động được chia ra : mục tiêu hoạt động là giá cả tiền tệ và mục tiêu hoạt động là khối lượng tiền tệ.
Mục tiêu hoạt động là giá cả tiền tệ có nghĩa là những thay đổi tạm thời của cung và cầu tiền cơ bản chỉ nhằm đạt được mục tiêu là đảm bảo lãi suất ngắn hạn trên thị trường xoay quanh lãi suất mục tiêu. Mục tiêu hoạt động là khối lượng tiền tệ, NHTW không điều tiết thay đổi của cầu tiền cơ bản và bỏ qua những tác động của lãi suất mà chỉ quan tâm đến tiền cơ bản có phù hợp với mục tiêu hay không [1]. Quan hệ giữa các mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng được tóm tắt trong bảng 1.1 dưới đây : Bảng 1.1 Quan hệ giữa mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ Mục tiêu hoạt động Mục tiêu trung gian Mục tiêu cuối cùng - Giá cả tiền tệ. - Tổng tiền cung ứng.
- Ổn định giá cả. - Khối lượng tiền tệ. - Lãi suất thị trường - Tăng trưởng kinh tế,. … tạo công việc làm.2- Chức năng của Ngân hàng Trung ương - Phát hành tiền và điều tiết lượng tiền cung ứng.
NHTW giữ độc quyền phát hành tiền giấy và tiền kim loại. Để đảm bảo giá trị tiền tệ ổn định việc phát hành tiền phải tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định. NHTW còn tham gia và kiểm soát việc tạo tiền trong hệ thống các NHTM, thông qua quá trình cho vay, thanh toán bằng chuyển khoản. NHTW không chỉ thực -16- hiện chức năng phát hành tiền mà còn thực hiện việc điều tiết lượng tiền cung ứng, thực hiện CSTT quốc gia.
- Ngân hàng Trung ương là Ngân hàng của các ngân hàng. Chức năng này thể hiện ở chỗ : NHTW mở tài khoản, bảo quản dự trữ tiền tệ và là trung tâm thanh toán cho các ngân hàng; là người cho vay cuối cùng đối với NHTM; được thực hiện các biện pháp khẩn cấp cần thiết để đối phó khi xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ. - Ngân hàng Trung ương là Ngân hàng của Nhà nước. Thực hiện chức năng này NHTW quản lý, giám sát hệ thống ngân hàng, TCTD đảm bảo an toàn, lành mạnh (Được phân tích chi tiết trong chương này).3- Vị thế của Ngân hàng Trung ương Trong điều kiện các nước hội nhập kinh tế thế giới và khu vực nói chung và thị trường tài chính - tiền tệ nói riêng ngày càng sâu rộng, để NHTW có thể thực hiện tốt chức năng của mình, đòi hỏi phải nâng cao vị thế của NHTW.
Vị thế của NHTW được nâng lên, khi được quy định rõ trong Luật NHTW : địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của NHTW; trách nhiệm quyền hạn của NHTW (trong mối quan hệ với Chính phủ và Quốc hội) đối với việc hoạch định, điều hành CSTT quốc gia và đối với việc ổn định hệ thống tài chính. Tuy mức độ độc lập của NHTW các nước có khác nhau, nhưng nhìn chung xu hướng NHTW của các nước trên thế giới ngày càng trở nên độc lập hơn với Chính phủ và Quốc hội. Tính độc lập được thể hiện thông qua ba hình thức : (i) độc lập về nhân sự, (ii) độc lập về chính sách, và (iii) độc lập về tài chính. - Độc lập về nhân sự.
Thông qua hình thức này, Thống đốc NHTW được quyền quyết định các vấn đề về nhân sự (bổ nhiệm, miễn nhiệm, tuyển dụng, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật, chế độ trả lương ….) thuộc -17- quyền quản lý của mình. Đối với nhân sự chủ chốt của NHTW và các thành viên của Hội đồng CSTT Quốc gia do Quốc hội và Chính phủ quyết định. Để đảm bảo CSTT thể hiện quan điểm của các thành phần trong nền kinh tế, cơ cấu Hội đồng CSTT Quốc gia thường bao gồm đại diện Quốc hội, Chính phủ, NHTW, chuyên gia kinh tế tài chính ngân hàng, doanh nghiệp, đại diện Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch đầu tư.Tỷ lệ phần lớn các thành viên của Hội đồng là người của NHTW và Chủ tịch Hội đồng thường là Thống đốc NHTW. Hội đồng CSTT Quốc gia luôn được đổi mới và có tính kế thừa, hàng năm có một tỷ lệ nhất định thành viên mới.
Các thành viên mới này được chỉ định hoặc bầu bổ sung bởi các nhiệm kỳ Quốc hội, Chính phủ. Nhằm nâng cao tính độc lập của NHTW, nhiệm kỳ của Thống đốc NHTW và các nhân sự chủ chốt thường lệch pha hoặc được kéo dài hơn so với nhiệm kỳ của các thành viên Quốc hội và Chính phủ, để tránh áp lực chính trị. Thống đốc NHTW và các thành viên Hội đồng CSTT Quốc gia có trách nhiệm báo cáo các hoạt động của mình theo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu của Ủy ban đặc trách của Quốc hội và Chính phủ. Đối với các nước Thống đốc NHTW không phải là thành viên của Chính phủ, do đó không phải báo cáo giải trình trước Quốc hội.
Chỉ có Quốc hội mới được quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm để thay thế Thống đốc NHTW trong trường hợp Thống đốc NHTW không hoàn thành nhiệm vụ. Còn Thủ tướng Chính phủ (đứng đầu Chính phủ) không có quyền phế truất trực tiếp, nhưng có quyền đề nghị Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Thống đốc NHTW.[1] -18- - Độc lập về chính sách. Nhiều nước mục tiêu cuối cùng của CSTT thường được quy định trong Luật và do Quốc hội quyết định. Đối với mục tiêu trung gian (tổng tiền cung ứng, lãi suất thị trường) và việc sử dụng các công cụ CSTT, giao cho NHTW quyết định để nâng cao tính độc lập về chính sách của NHTW.
Để đạt được mục tiêu trung gian, bước kế tiếp NHTW xác định mục tiêu hoạt động (có thể lấy lãi suất thị trường liên ngân hàng làm định hướng…). Mục tiêu hoạt động thường do Hội đồng CSTT Quốc gia (bao gồm các thành phần nói trên) quyết định thông qua các cuộc họp định kỳ và là căn cứ cho NHTW được chủ động linh hoạt trong điều hành các công cụ CSTT.