LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài luận án Hoạt động tín dụng (HĐTD) ngân hàng góp phần quan trọng đối với tăng trƣởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo qua cung cấp vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy đầu tƣ, tăng trƣởng kinh tế, góp phần tạo việc làm, thực hiện các chính sách an sinh xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho đầu tƣ phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo và cải thiện an sinh xã hội. Trong giai đoạn 2006-2012, tín dụng cho nền kinh tế tăng bình quân 28,09%/năm, cao hơn mức tăng bình quân 26,1%/năm của giai đoạn 2001-2005 [62, tr.1] và tỷ lệ tín dụng trên tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP) từ hơn 68% năm 2006 lên hơn 104% vào năm 2012 (xem Bảng 2. Tín dụng ngân hàng cấp cho hộ nghèo trong giai đoạn 2003-2012 đã gia tăng cao, tổng dƣ nợ tín dụng ngân hàng đạt 113.921 tỷ đồng, tốc độ tăng trƣởng bình quân hàng năm đạt 32,8%.
Đến cuối năm 2012 có gần 7,1 triệu hộ nghèo và các đối tƣợng chính sách còn dƣ nợ, với dƣ nợ bình quân 16 triệu đồng/hộ. Tín dụng ngân hàng đã góp phần tích cực trong việc thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo trong thời kỳ 2001-2005 giảm từ 17% xuống 7%; trong thời kỳ 2005-2010 giảm từ 22% xuống 9,45% và trong thời kỳ 2011-2012 giảm từ 14,2% xuống còn 10% [92, tr. Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), theo nhận định của Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố, với “Dƣ nợ tín dụng tăng trƣởng bình quân 38,9%/năm, huy động vốn tăng 38,8%/năm (giai đoạn 2005-2010), đóng góp tích cực vào quá trình tăng trƣởng và phát triển kinh tế, thúc đẩy kinh tế thành phố tăng trƣởng liên tục trong suốt 38 năm qua”[60, tr.1] và tỷ lệ tín dụng trên GDP từ hơn 115% năm 2006 lên hơn 138% vào năm 2012 (xem Bảng 2.
Đồng thời, để thực hiện hiệu quả chƣơng trình giảm nghèo, tăng hộ khá, trên địa bàn TP.HCM đã mở rộng cho vay đến cuối năm 2012 hơn 2.771 tỷ đồng và đến thời điểm giữa năm 2013 là 2.129 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ các hộ nghèo, hộ cận nghèo tổ chức sản xuất, 2 tạo tích lũy, tăng thu nhập, giảm nghèo và ổn định cuộc sống. Qua đó, góp phần vào công tác giảm nghèo, thực hiện dứt điểm, không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia tính đến cuối năm 2012 [47, tr. Với vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng, nên sự an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống các TCTD là nhân tố quan trọng đối với sự ổn định hệ thống tài chính quốc gia và kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, do tác động của khủng hoảng tài chính trên thế giới trong các năm gần đây, bắt đầu từ năm 2007-2008 khủng hoảng tài chính tại Hoa Kỳ và lan rộng khắp thế giới.
Một trong những nguyên nhân của khủng hoảng là do sụp đổ của thị trƣờng tín dụng qua hoạt động cho vay mua nhà dƣới chuẩn khi giá nhà tại Hoa Kỳ suy giảm và chính sách tiền tệ nới lỏng của Hoa Kỳ đã gây ra hiệu ứng lan tỏa nhanh trên thị trƣờng tài chính sang một loạt nƣớc châu Âu nhƣ Đức, Pháp, Bỉ, Hà lan, Ý, Thụy sĩ, Ai len. Những tác động làm lan tỏa nhanh khủng hoảng tài chính thế giới xuất phát từ thị trƣờng tài chính phát triển nhanh với các mô hình, hoạt động kinh doanh mới, các sản phẩm tài chính đa dạng, phức tạp kéo theo rủi ro lớn hơn; khuôn khổ quản lý và giám sát ngân hàng cũng nhƣ nhận thức và chuẩn mực an toàn HĐTD không đƣợc nâng cấp tƣơng ứng để duy trì an toàn và ổn định tài chính; các ngân hàng mở rộng cho vay, không quan tâm chất lƣợng ngƣời vay, chứng khoán hóa ngay các khoản vay đó và chuyển giao rủi ro tín dụng cho nhà đầu tƣ; quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro yếu kém tại các định chế tài chính và nhiều nơi chấp nhận rủi ro quá mức, duy trì mức vốn quá thấp, phụ thuộc thái quá vào các nguồn vốn ngắn hạn, chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá; đồng thời, sự thiếu cẩn trọng trong chính sách kinh tế vĩ mô, và đi liền với đó là thiếu sự quan tâm đến giám sát cẩn trọng vĩ mô là nguyên nhân xuất hiện tại hầu hết các cuộc củng hoảng. Những mất cân đối lớn cả về kinh tế vĩ mô và trên thị trƣờng tài chính đã không đƣợc các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý giám sát quan tâm đầy đủ. Một phần là do chƣa có cơ quan nào hoạt động thật hữu hiệu để theo dõi, xác định, và xử lý các rủi ro chéo, rủi ro hệ thống.
Một phần cũng vì các cơ quan quản lý, giám sát đã không có đƣợc sức mạnh và sự độc lập cần thiết để bảo về ổn định tài chính [84, tr. 3 Tại Việt Nam, HĐTD ngân hàng từng bƣớc triển khai trong khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn thiện và đúc kết kinh nghiệm quốc tế từ các cuộc khủng hoảng nói trên để vận dụng phù hợp với tình hình cụ thể ở Việt Nam. Các chuẩn mực quốc tế về quản lý rủi ro đối với từng hình thức cấp tín dụng, vể giới hạn tín dụng, về thanh tra, giám sát,. đƣợc thể chế hoá và triển khai thực hiện.
Tuy vậy, HĐTD ngân hàng tại Việt Nam còn chứa đựng nhiều rủi ro do phát triển quy mô tín dụng quá lớn. Tổng dƣ nợ tín dụng tăng từ 25% GDP năm 1995 [56, tr.2] lên 68% năm 2006 và 104% vào năm 2012 (xem Bảng 2. Đến năm 2012, tuy dƣ nợ tín dụng đã đƣợc khống chế một bƣớc, nhƣng hệ quả của sự phát triển tín dụng quá “nóng” những năm trƣớc đó vẫn đe dọa sự ổn định hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia, ảnh hƣởng đến tăng trƣởng ổn định của nền kinh tế. Tăng trƣởng tín dụng thƣờng rất cao trong những năm trƣớc đây, đã suy giảm mạnh trong các năm 2010, 2011 và 2012, đi kèm theo là tỷ lệ nợ xấu gia tăng nhanh và nợ có nguy cơ mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Qua cơ cấu tín dụng cho thấy những quan ngại, cơ cấu tín dụng theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh trong tổng số khoảng 250 nghìn tỷ đồng dƣ nợ cho vay bất động sản, số đầu tƣ vào phân khúc phát triển dự án xây dựng và đầu cơ bất động sản ƣớc chiếm tới 90% [57, tr.3] và “Trong bối cảnh thị trƣờng bất động sản tiếp tục đóng băng, sụt giá và chƣa có dấu hiệu hồi phục thì riêng nợ xấu từ khu vực này có thể chiếm tới 60% tổng nợ xấu ngân hàng” [57, tr. Theo Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012 do Ủy ban Kinh tế Quốc hội thực hiện, hệ thống ngân hàng thƣơng mại (NHTM) Việt Nam trong năm 2011 và sang đầu năm 2012 đối diện với các vấn đề lớn đe dọa đến tính ổn định của toàn hệ thống bao gồm tỉ lệ nợ xấu cao, thanh khoản kém, sai lệch kép ở cả cơ cấu thời hạn và cơ cấu đồng tiền. Đây là những rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và trong HĐTD nói riêng của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trên địa bàn TP.HCM, tăng trƣởng tín dụng ngân hàng cũng theo tình hình chung của toàn hệ thống, quy mô tín dụng khá lớn, tổng dƣ nợ tín dụng tăng từ 115% GDP năm 2006 lên gần 139% vào năm 2012 (xem Bảng 2.6) đã ẩn chứa nhiều rủi ro trong HĐTD.
Tăng trƣởng tín dụng chậm lại trong các năm gần đây, nợ 4 xấu của các TCTD trên địa bàn có xu hƣớng tăng, trong đó một số TCTD có tỷ lệ nợ xấu cao hơn 5%, tỷ trong nợ có khả năng mất vốn cũng chiếm tỷ trọng cao trong tổng nợ xấu [24, tr.5] và chất lƣợng tín dụng giảm sút. “Nợ quá hạn, nợ xấu ngoài phát sinh ngày càng tăng về mức độ, về tốc độ và tỷ lệ, còn phát sinh tăng theo số lƣợng ngày càng nhiều NHTM có nợ xấu tăng cao, cho thấy nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh tăng cao với nguy cơ mất vốn ngày càng lớn và đã lan tỏa rộng khắp hệ thống NHTM” [9, tr. Nguyên do, tăng trƣởng tín dụng cao nhiều năm chƣa đƣợc cảnh báo đúng lúc, nhiều NHTM dự báo quá tự tin về phát triển của thị trƣờng chứng khoán, thị trƣờng bất động sản trong tƣơng lai, đã cấp tín dụng ở mức độ lớn vào các lĩnh vực này và gặp nhiều rủi ro khi thị trƣờng chứng khoán giảm sút, thị trƣờng bất động sản đóng băng. Mặt khác, trong những năm vừa qua, HĐTD của các NHTM bị tác động bởi kinh tế vĩ mô bất ổn, chính sách tiền tệ thắt chặt (lãi suất gia tăng, hạn chế tăng trƣởng tín dụng, đặc biệt hạn chế cho vay trong các lĩnh vực đầu tƣ, kinh doanh bất động sản, chứng khoán, hạn chế cho vay tiêu dùng) đồng thời do tác động từ những khó khăn của các doanh nghiệp và từ các yếu tố bên trong của các NHTM… đã làm cho nợ quá hạn phát sinh với mức độ gia tăng và rủi ro trong HĐTD ngày càng lớn.
Từ thực tế trên cho thấy, HĐTD của các NHTM tại Việt Nam nói chung và các NHTM trên địa bàn TP.HCM nói riêng, đã đóng vai trò quan trọng đối với tăng trƣởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Với số lƣợng và quy mô hoạt động các ngân hàng thƣơng mại cổ phần (NHTMCP) trên địa bàn TP.HCM lớn nhất trong cả nƣớc, HĐTD của các NHTMCP cũng đã đóng góp tích cực cho tăng trƣởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo trên địa bàn trong những năm qua. Dù vậy, cho vay vẫn là hình thức cấp tín dụng chủ yếu và nhiều NHTMCP tập trung quá mức hoạt động cho vay vào các lĩnh vực rủi ro, đã làm gia tăng nợ xấu ngày càng cao. Mặt khác, những bất ổn về tài chính tiền tệ thế giới và các cuộc khủng hoảng tiền tệ-ngân hàng trong những năm qua đã tác động với các mức độ khác nhau đến nền kinh tế Việt nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, làm cho kinh tế vĩ mô đất nƣớc đã sa vào bất ổn, suy giảm kinh tế, tác động càng làm tăng thêm những khó khăn trong HĐTD tại 5 nhiều NHTMCP.
Từ đó, đã có những quy định pháp lý của NHNN và chỉ đạo, điều hành của NHNN Chi nhánh TP.