Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Ba Vì giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên đạt 9.700,35 ha, trong đó tỷ lệ che phủ rừng đạt 84,5% tương ứng 8.192,5 ha. Nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 50 km về phía Tây, khu vực này trải dài trên địa bàn 16 xã thuộc 5 huyện gồm Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai của thành phố Hà Nội cùng Lương Sơn, Kỳ Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình. Vườn quốc gia Ba Vì được ví như lá phổi xanh điều hòa khí hậu cho toàn bộ vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp vô cùng phong phú.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ sự bùng nổ nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng và du lịch tâm linh, kéo theo hàng triệu lượt khách đổ về mỗi năm. Sự phát triển nhanh chóng của các hoạt động dịch vụ văn hóa đã tạo ra áp lực nặng nề lên cấu trúc sinh thái tự nhiên, gây nguy cơ suy giảm nguồn gen quý hiếm và làm biến dạng một số giá trị văn hóa bản địa. Trước thực trạng đó, đề tài tập trung vào mục tiêu xác định hiện trạng hệ sinh thái, phân tích chức năng dịch vụ văn hóa, lượng giá bước đầu giá trị du lịch sinh thái và đề xuất các giải pháp quản lý bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai toàn diện tại vùng lõi và dải rừng vùng đệm với hơn 118.000 cư dân sinh sống trong giai đoạn từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 6 năm 2016. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua việc thiết lập cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác bảo tồn 503 loài cây thuốc quý, 66 loài động vật nguy cấp trong Sách đỏ, đồng thời giải quyết bài toán hài hòa lợi ích kinh tế cho 1.436 hộ nghèo tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của ba khung lý thuyết khoa học hiện đại và hệ thống văn bản pháp lý quốc gia:

Thứ nhất là Lý thuyết Tiếp cận Hệ sinh thái theo Công ước về Đa dạng sinh học với 12 nguyên lý cốt lõi và quy trình can thiệp 5 bước. Khung lý thuyết này khẳng định việc quản lý tài nguyên thiên nhiên phải bảo đảm tính toàn vẹn của cấu trúc sinh thái, cân bằng giữa mục tiêu bảo tồn Đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hội, đồng thời phân cấp trách nhiệm đến cấp cơ sở phù hợp nhất.

Thứ hai là Lý thuyết Tiếp cận Hệ thống của Ludwig von Bertalanffy. Lý thuyết này cho phép nhìn nhận Vườn quốc gia Ba Vì như một chỉnh thể phức hợp gồm các phân hệ tự nhiên, xã hội và kinh tế có mối quan hệ tương tác hữu cơ. Mọi tác động vào phân hệ dịch vụ văn hóa đều tạo ra phản ứng dây chuyền đến phân hệ sinh thái rừng và sinh kế cộng đồng.

Thứ ba là Khung lý thuyết Quản lý Dịch vụ Văn hóa được tích hợp từ định nghĩa của UNESCO và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng. Khung lý thuyết này nhấn mạnh văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế.

Ba khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt bao gồm: Dịch vụ văn hóa (các lợi ích phi vật chất như làm giàu nhận thức, trải nghiệm thẩm mỹ và tâm linh); Du lịch sinh thái văn hóa (mô hình kết hợp giữa trải nghiệm cảnh quan thiên nhiên và khám phá di sản lịch sử); và Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng (phương thức trao quyền và chia sẻ lợi ích với cư dân bản địa).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học:

Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả tiến hành điều tra xã hội học trên cỡ mẫu 300 khách du lịch bằng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo độ tuổi, mức thu nhập và mục đích chuyến đi tại các trạm đón tiếp từ cốt 400m đến cốt 1.100m. Đồng thời, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 97 hộ gia đình đồng bào dân tộc Dao và Mường đang nhận khoán bảo vệ 3.350 ha rừng tại các xã Ba Vì, Vân Hòa và Khánh Thượng.

Về nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua 3 năm theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, khảo sát thực địa các ô tiêu chuẩn và điều tra xã hội học giai đoạn 2014-2016. Dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ số liệu khí tượng thủy văn trạm Ba Vì với nhiệt độ trung bình 23,32 độ C, lượng mưa 2.033,6 mm, cùng các báo cáo kinh tế xã hội định kỳ từ năm 2011 đến 2015 của 16 xã vùng đệm.

Về phương pháp phân tích: Tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả kết hợp phân tích kinh tế lượng giá thông qua phương pháp đánh giá ngẫu nhiên và chi phí du lịch. Việc kết hợp phần mềm thống kê chuyên dụng và công nghệ Hệ thống Thông tin Địa lý giúp số hóa bản đồ phân vùng chức năng sinh thái, phân tích chính xác mức độ sẵn sàng chi trả của du khách, từ đó tạo luận cứ vững chắc cho các quyết định quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về chức năng sinh thái, dịch vụ văn hóa và hiện trạng kinh tế xã hội tại Vườn quốc gia Ba Vì:

Thứ nhất, tính đa dạng sinh học đạt giá trị bảo tồn vượt bậc với 1.201 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 649 chi và 160 họ, tăng 389 loài so với số liệu thống kê năm 1998. Trong đó, ghi nhận 36 loài cây gỗ quý hiếm như Bách xanh, Thông tre, Sến mật; 49 loài thực vật đặc hữu mang tên Ba Vì như Mua Ba Vì, Thu hải đường Ba Vì; cùng 503 loài cây thuốc thuộc 118 họ có giá trị dược liệu cao. Về khu hệ động vật, nghiên cứu ghi nhận 342 loài động vật có xương sống gồm 63 loài thú, 191 loài chim, 61 loài bò sát và 27 loài lưỡng thê, trong đó có 66 loài quý hiếm như Cầy vằn, Sơn dương, Beo lửa, Gà lôi trắng và 552 loài côn trùng với 7 loài trong Sách đỏ Việt Nam.

Thứ hai, cấu trúc dịch vụ văn hóa phân hóa đa dạng thành 5 nhóm chức năng rõ rệt: Chức năng tâm linh lịch sử gắn liền với quần thể Di tích Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ thờ Tản Viên Sơn Thánh và Đền thờ Bác Hồ trên đỉnh Vua; Chức năng nghiên cứu khoa học và giáo dục môi trường thông qua vườn sưu tập 117 loài tre trúc và hơn 1.000 loài xương rồng; Chức năng nghỉ dưỡng chữa bệnh với hệ thống tri thức y học cổ truyền của người Dao; Chức năng vui chơi giải trí khám phá thiên nhiên và Chức năng thẩm mỹ cảnh quan.

Thứ ba, phân tích nhân khẩu học du khách cho thấy thị trường khách có cơ cấu trẻ hóa mạnh mẽ với hơn 65% khách trong độ tuổi từ 18 đến 35 tuổi, phần lớn xuất phát từ khu vực nội thành Hà Nội. Thời gian lưu trú trung bình còn ngắn, chủ yếu đi về trong ngày hoặc nghỉ lại 1 đêm chiếm tỷ lệ trên 80%. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng chi trả cho phí bảo tồn cảnh quan và vé vào cổng của du khách có xu hướng tăng đều qua các năm.

Thứ tư, áp lực sinh kế của cư dân vùng đệm tạo nguy cơ suy thoái tài nguyên rừng. Trong tổng số 118.192 nhân khẩu tại 16 xã, đồng bào dân tộc Mường chiếm 77,3% tương đương 91.362 người, người Kinh chiếm 20,2% và người Dao chiếm 2,3%. Lực lượng lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 60.132 người trên tổng số 65.863 lao động. Toàn khu vực còn 1.436 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 10,31%, dẫn đến tình trạng khai thác quá mức 503 loài cây thuốc tự nhiên và nguy cơ xâm lấn đất rừng.

Thảo luận kết quả

Khi mô tả diễn biến dữ liệu qua các bảng tổng hợp và biểu đồ lượng khách giai đoạn 2011-2015, có thể thấy tốc độ tăng trưởng du khách đến Ba Vì luôn duy trì ở mức hai con số. Biểu đồ nguồn khách chỉ rõ sự phụ thuộc lớn vào thị trường nội địa Hà Nội, tạo nên tính mùa vụ gay gắt, tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè và các dịp lễ hội đầu năm.

Nguyên nhân của hiện tượng này bắt nguồn từ lợi thế khoảng cách địa lý chỉ 50 km và điều kiện khí hậu á nhiệt đới mát mẻ tại các đai cao trên 400m, nơi nhiệt độ trung bình năm giảm xuống 20,6 độ C so với 23,32 độ C ở chân núi. Khi so sánh với các mô hình du lịch văn hóa thành công tại Hội An hay Mỹ Sơn, chuỗi sản phẩm dịch vụ văn hóa tại Ba Vì còn đơn điệu, chủ yếu dựa trên tài nguyên sẵn có mà chưa khai thác sâu bản sắc văn hóa cồng chiêng Mường hay lễ hội múa Chuông của người Dao.

Ý nghĩa thực tiễn của phát hiện này chỉ ra rằng, nếu Ban quản lý tiếp tục duy trì cơ chế khai thác tự phát mà không lượng giá chính xác giá trị dịch vụ hệ sinh thái, nguy cơ tổn thương tính nguyên vẹn của 4.200,5 ha rừng tự nhiên là rất lớn. Do đó, việc chuyển đổi mô hình từ du lịch thuần túy sang du lịch sinh thái có trách nhiệm gắn với bảo tồn di sản là yêu cầu sống còn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chức năng và dịch vụ văn hóa tại Vườn quốc gia Ba Vì, 4 nhóm giải pháp chiến lược cần được triển khai đồng bộ:

Một là, rà soát và hoàn thiện cơ chế cho thuê môi trường rừng kinh doanh du lịch sinh thái. Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Vì phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp tiến hành kiểm toán toàn diện 100% các dự án liên doanh, liên kết trên địa bàn. Đặt mục tiêu trích lập tối thiểu 15% đến 20% tổng doanh thu dịch vụ du lịch hàng năm để tái đầu tư trực tiếp cho công tác tuần tra, khoanh nuôi và bảo vệ 8.192,5 ha đất có rừng. Thời gian hoàn thành khung pháp lý trong giai đoạn 2016-2018.

Hai là, xây dựng mô hình bảo tồn dựa vào cộng đồng và phát triển sinh kế bền vững từ cây dược liệu. Giao Ủy ban nhân dân 16 xã vùng đệm chủ trì, phối hợp với các tổ chức khoa học chuyển giao kỹ thuật nhân giống và quy hoạch vùng trồng chuyên canh đối với 503 loài cây thuốc quý tại các xã Ba Vì và Vân Hòa. Phấn đấu mở rộng diện tích giao khoán bảo vệ rừng vượt mốc 3.350 ha hiện tại, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo trong vùng từ 10,31% xuống dưới 5% trước năm 2020.

Ba là, tái cơ cấu sản phẩm du lịch văn hóa mang bản sắc đặc thù. Phòng Giáo dục Môi trường và Dịch vụ thuộc Vườn chủ trì thiết kế các tour trải nghiệm văn hóa gắn với tri thức bản địa của người Mường chiếm 77,3% dân số và người Dao chiếm 2,3% dân số. Đẩy mạnh liên kết với các doanh nghiệp lữ hành chuyên nghiệp nhằm kéo dài thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1 ngày lên 2 đến 3 ngày, nâng mức chi tiêu bình quân của mỗi lượt khách thêm 30% trong lộ trình 2017-2020.

Bốn là, hiện đại hóa công tác kiểm tra, giám sát bằng công nghệ thông tin. Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Ba Vì chịu trách nhiệm ứng dụng triệt để phần mềm GIS và hệ thống định vị vệ tinh GPS trong giám sát biến động tài nguyên trên 4.200,5 ha rừng tự nhiên. Tăng cường lập chốt kiểm soát liên ngành, kiên quyết xử lý triệt để các hành vi bẫy bắt 66 loài động vật rừng quý hiếm và khai thác gỗ trái phép.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các Nhà quản lý rừng đặc dụng và Vườn quốc gia trên toàn quốc. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận thực tế về lượng giá dịch vụ văn hóa và quy trình tổ chức cho thuê môi trường rừng, giúp các đơn vị quản lý giải quyết hài hòa xung đột giữa bảo tồn sinh thái và khai thác kinh tế.

Nhóm thứ hai là các Nhà nghiên cứu, Giảng viên và Học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Lâm nghiệp và Du lịch. Tài liệu mang đến hệ thống dữ liệu chi tiết về 1.201 loài thực vật, 342 loài động vật, cùng các mô hình tiếp cận hệ sinh thái tiên tiến phục vụ giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Nhóm thứ ba là Cơ quan hoạch định chính sách và Chính quyền địa phương thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình. Luận văn là cơ sở tin cậy để xây dựng quy hoạch kinh tế xã hội vùng đệm 16 xã, định hướng chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững cho hơn 60.000 lao động nông nghiệp.

Nhóm thứ tư là các Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành sinh thái. Dữ liệu về nhu cầu chi trả và đặc điểm nhân khẩu học của du khách giúp doanh nghiệp thiết kế các sản phẩm du lịch trải nghiệm độc đáo, gia tăng doanh thu và thực hiện trách nhiệm xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Chức năng dịch vụ văn hóa của Vườn quốc gia Ba Vì bao gồm những thành tố chính nào? Dịch vụ văn hóa tại Vườn quốc gia Ba Vì gồm 5 thành tố: giá trị tâm linh lịch sử qua quần thể Đền Thượng và Đền thờ Bác Hồ; giá trị nghiên cứu khoa học qua vườn sưu tập 117 loài tre trúc và hơn 1.000 loài xương rồng; giá trị du lịch nghỉ dưỡng gắn với 503 loài cây thuốc nam; giá trị thể thao dã ngoại khám phá rừng tự nhiên; và giá trị thẩm mỹ cảnh quan vùng núi cao.

Đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Ba Vì có những điểm gì nổi bật? Vườn sở hữu hệ sinh thái phong phú với 1.201 loài thực vật có mạch, gồm 49 loài đặc hữu và 36 loài gỗ quý. Khu hệ động vật ghi nhận 342 loài động vật có xương sống và 552 loài côn trùng, trong đó có 66 loài quý hiếm trong Sách đỏ như Cầy vằn, Sơn dương, Gà lôi trắng phân bố trên diện tích 8.192,5 ha đất có rừng.

Tại sao cần áp dụng phương pháp Tiếp cận Hệ sinh thái trong quản lý dịch vụ văn hóa? Tiếp cận hệ sinh thái theo chuẩn mực quốc tế gồm 12 nguyên lý giúp nhà quản lý nhìn nhận toàn diện mối tương tác giữa bảo tồn thiên nhiên và hoạt động kinh tế của con người. Phương pháp này đảm bảo các hoạt động du lịch văn hóa không vượt quá sức tải môi trường của 4.200,5 ha rừng tự nhiên nguyên sinh.

Thực trạng đời sống của cộng đồng dân cư vùng đệm ảnh hưởng như thế nào đến công tác bảo tồn? Khu vực vùng đệm có 118.192 dân cư với 1.436 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 10,31%, trong đó đồng bào Mường chiếm 77,3%. Nhu cầu mưu sinh khiến người dân khai thác quá mức 503 loài cây thuốc và tài nguyên rừng, tạo áp lực trực tiếp lên công tác quản lý của lực lượng kiểm lâm.

Giải pháp nào giúp nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ văn hóa trong thời gian tới? Cần thực hiện đồng bộ 4 giải pháp: hoàn thiện cơ chế trích 15% đến 20% doanh thu du lịch tái đầu tư bảo tồn; nhân rộng mô hình giao khoán 3.350 ha rừng kết hợp trồng dược liệu; phát triển tour văn hóa cồng chiêng Mường và múa Chuông Dao; ứng dụng công nghệ GIS quản lý toàn diện tài nguyên.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa hệ thống lý luận về chức năng và dịch vụ văn hóa của Vườn quốc gia trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Xác lập bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện về 1.201 loài thực vật, 342 loài động vật có xương sống và 503 loài cây thuốc trên tổng diện tích 9.700,35 ha.
  • Đánh giá chân thực thực trạng phát triển du lịch, phân tích thị trường khách và chỉ rõ mối quan hệ tương hỗ giữa bảo tồn với sinh kế của 118.192 cư dân vùng đệm.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gắn liền với trách nhiệm cụ thể của các cấp quản lý và cộng đồng bản địa.
  • Định hướng chuyển đổi mô hình quản trị rừng đặc dụng Ba Vì thành điểm sáng về du lịch sinh thái văn hóa bền vững của cả nước.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan ban ngành cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất, triển khai dự án thí điểm bảo tồn tri thức cây thuốc nam tại xã Ba Vì trước năm 2018, đồng thời xây dựng đề án lượng giá toàn phần hệ sinh thái rừng đến năm 2020. Hãy liên hệ với tác giả và cơ quan chủ quản để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu và đồng hành cùng các dự án phát triển bền vững tại Vườn quốc gia Ba Vì.