Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số 62310640) với đề tài "Biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội trong bối cảnh phát triển du lịch" do nghiên cứu sinh Đỗ Hải Yến thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Thị Vân Chi và TS. Nguyễn Văn Lưu.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự thâm nhập của yếu tố văn hóa vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó văn hóa mưu sinh của cộng đồng cư dân vùng di sản văn hóa là đối tượng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Điểm du lịch văn hóa, tâm linh Hương Sơn (huyện Mỹ Đức, Hà Nội) gắn với quần thể danh lam thắng cảnh và lễ hội Chùa Hương. Nơi đây đã được Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 xác định là khu du lịch quốc gia. Sau năm 1990, hoạt động du lịch tại Hương Sơn tăng trưởng mạnh, mang lại doanh thu hàng trăm tỷ đồng mỗi năm và làm thay đổi phương thức sinh kế của người dân địa phương. Tuy nhiên, bối cảnh phát triển du lịch và quá trình chuyển đổi nghề nghiệp cũng nảy sinh các xung đột, đặt ra nguy cơ suy giảm các giá trị văn hóa truyền thống và tính bền vững của sinh kế bản địa. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: cho đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, cụ thể về biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ thực trạng, phương thức, các yếu tố tác động và xu hướng biến đổi của văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch; lý giải nguyên nhân chuyển đổi phương thức mưu sinh; đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hóa truyền thống tại địa phương.

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa khái niệm và vấn đề lý luận về biến đổi văn hóa nói chung, văn hóa mưu sinh và biến đổi văn hóa mưu sinh trong bối cảnh phát triển du lịch;
  2. Làm rõ thực trạng biến đổi văn hóa mưu sinh của cộng đồng cư dân xã Hương Sơn trước năm 1990 và trong bối cảnh phát triển du lịch;
  3. Đánh giá phương thức, nội dung, xu hướng biến đổi văn hóa mưu sinh của cộng đồng cư dân địa phương; bàn luận và xác định các yếu tố tác động, nguyên nhân của các biến đổi.

Các câu hỏi nghiên cứu được văn bản đặt ra gồm:

  1. Văn hóa mưu sinh của cộng đồng cư dân xã Hương Sơn đang biến đổi như thế nào trong bối cảnh phát triển du lịch?
  2. Những vấn đề gì đang đặt ra từ những biến đổi văn hóa mưu sinh tại xã Hương Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch?
  3. Có những vấn đề gì cần bàn luận để phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của văn hóa mưu sinh tại xã Hương Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những biến đổi văn hóa mưu sinh trong bối cảnh phát triển du lịch của cộng đồng cư dân xã Hương Sơn.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (diện tích tự nhiên 8.284,73 ha, gồm 6 thôn: Đục Khê, Yến Vĩ, Hội Xá, Phú Yên, Tiên Mai, Hạ Đoạn).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiến trình từ năm 1990 đến thời điểm khảo sát (2017-2018), mốc thời gian xã Hương Sơn chịu tác động mạnh mẽ của các cơ chế, chính sách phát triển du lịch dẫn đến chuyển dịch mưu sinh.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung phân tích, đánh giá biến đổi văn hóa mưu sinh và việc duy trì văn hóa mưu sinh của cư dân địa phương qua ba khía cạnh: văn hóa ứng xử với các nguồn lực mưu sinh, văn hóa trong hoạt động mưu sinh và văn hóa thể hiện qua các nghi lễ mưu sinh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu liên quan thành ba nhóm nội dung chính:

  1. Các nghiên cứu lý thuyết về sự biến đổi văn hóa:
  • Nghiên cứu quốc tế: Điểm lại quan điểm của E. Morgan (1818-1881) với thuyết tiến hóa văn hóa đơn tuyến; các công trình của Halpern về tiếp biến văn hóa nông thôn - đô thị; Ronald Inglehart và Wayne E. Baker về hiện đại hóa và biến đổi văn hóa; David Popenoe (1991) về vùng văn hóa và biến đổi trung tâm - ngoại vi; Paul N. Lakey (2003) về thích ứng văn hóa qua giao tiếp; Pamela Balls Organista, Gerardo Marin và Kevin M. Chun (2010) về biến đổi văn hóa dưới góc độ tâm lý học tộc người; Ozgur Celenk và Fons J. Vande Vijver (2011) về điều kiện, chiến lược và kết quả của quá trình biến đổi văn hóa.
  • Nghiên cứu trong nước: Tiếp cận khái niệm tiếp biến và biến đổi văn hóa qua các công trình của Tương Lai (1997), Lương Hồng Quang (1997-1999), Tôn Nữ Quỳnh Trân, Tô Duy Hợp (2000), Hà Huy Thành (2002), Lê Thanh Sang (2008), Nguyễn Thanh Tuấn (2008), Nguyễn Thị Phương Châm (2009 - nghiên cứu biến đổi tại Đồng Kỵ, Trang Liệt, Đình Bảng), Phan Đăng Long (2011 - biến đổi văn hóa đô thị), Vũ Diệu Trung (2013 - biến đổi văn hóa làng nghề tại Sơn Đồng, Bát Tràng, Đồng Xâm).
  1. Các nghiên cứu về văn hóa mưu sinh và biến đổi sinh kế:
  • Nghiên cứu quốc tế: Ghi nhận hai quan điểm về khởi nguồn thuật ngữ "livelihood" (Robert Chambers từ những năm 1980 và nhóm nghiên cứu Makarian tại Liên Xô cũ). Đánh giá cao khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) với 5 nguồn vốn sinh kế. Điểm qua luận án của Phùng Thị Tô Hạnh (2004, Thụy Điển) về chuyển đổi sinh kế của phụ nữ ven đô Hà Nội; nghiên cứu của Corinne Valdivia và cộng sự (2012) về cư dân bản địa gốc Latinh ở miền Trung nước Mỹ; nghiên cứu của Jenkins (2007) tại Manila về tác động xã hội của du lịch; công trình của Gerard Sasges và cộng sự (2000-2011) ghi chép 67 câu chuyện nghề nghiệp của lao động đô thị Việt Nam.
  • Nghiên cứu trong nước: Các công trình vận dụng khung sinh kế của Trần Bình, Nguyễn Văn Tạo (2013, 2016 - nghiên cứu sinh kế nông dân huyện Gia Lộc, Hải Dương), Lê Thị Thỏa, Lê Ngọc Huy và Vũ Việt Dũng (nghiên cứu về "bikelihood"), Lý Tùng Hiếu (2013), Bình Minh (2013 - sinh kế người H'Mông ở Sa Pa dưới tác động du lịch), Bùi Thị Bích Lan (2013 - sinh kế người Kháng ở Chiềng Bôm, Sơn La), Trần Bình (2013, 2015 - văn hóa mưu sinh vùng Đông Bắc và Tuyên Quang), Nguyễn Văn Sửu (2014 - đô thị hóa và biến đổi sinh kế ven đô Hà Nội).
  1. Các nghiên cứu về du lịch và vùng văn hóa Hương Sơn:
  • Đề cập luận văn kinh tế của Nguyễn Hồng Minh (2008) về phát triển du lịch bền vững khu vực Hà Tây cũ; cẩm nang của Hà Văn Siêu và Ando Katsuhiro (2014) về du lịch nông thôn.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trong nước tiếp cận mưu sinh và sinh kế dưới góc độ kinh tế học, nhân học, dân tộc học hoặc xã hội học, chủ yếu khảo sát cư dân vùng cao, vùng đồng bào thiểu số hoặc các vùng nông thôn thuần túy chịu tác động của đô thị hóa. Chưa có công trình nào khảo cứu toàn diện sự biến đổi văn hóa mưu sinh của một cộng đồng nông nghiệp tại đồng bằng Bắc Bộ dưới tác động trực tiếp của hoạt động du lịch lễ hội tâm linh như tại xã Hương Sơn dưới lăng kính của chuyên ngành Văn hóa học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên bốn quan điểm lý thuyết chính:

  1. Bối cảnh phát triển kinh tế (kinh tế du lịch) là tiền đề dẫn tới biến đổi văn hóa: Dựa trên nền tảng quan điểm của Karl Marx, Max Weber, Ronald Inglehart và Wayne E. Baker, khẳng định động lực kinh tế thúc đẩy sự biến đổi các chuẩn mực và hành vi văn hóa xã hội.
  2. Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation): Giải thích sự tương tác hai chiều giữa cư dân bản địa Hương Sơn với du khách từ các vùng miền, dẫn đến việc tiếp nhận và biến đổi các mô thức mưu sinh.
  3. Luận điểm văn hóa mưu sinh bền vững: Kế thừa khung phân tích sinh kế của Robert Chambers và DFID, phân loại thành 5 nguồn lực: tự nhiên, vật chất, xã hội, con người và tài chính. Tác giả sử dụng khái niệm văn hóa mưu sinh theo định hướng của PGS. Nguyễn Thị Phương Châm và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa nhằm nhấn mạnh phương thức sinh hoạt thích ứng với sinh tồn.
  4. Luận điểm phát triển du lịch bền vững: Tham chiếu Tuyên bố 90 của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) với 5 biểu hiện phát triển du lịch tại điểm đến và 6 nguyên tắc khai thác gắn liền với bảo tồn tài nguyên.

Khung phân tích của luận án cấu trúc thành ba biểu hiện cốt lõi:

  • Văn hóa ứng xử với các nguồn lực mưu sinh;
  • Văn hóa thể hiện trong các hoạt động mưu sinh (nghề nghiệp, công cụ, kỹ năng, kinh nghiệm);
  • Văn hóa thể hiện trong các nghi lễ gắn với mưu sinh (nghi lễ cộng đồng và nghi lễ gia đình).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Khảo cứu nguồn tư liệu thứ cấp từ sách, báo cáo, đề tài khoa học và kỷ yếu hội thảo liên quan đến văn hóa mưu sinh và di tích Hương Sơn.
  • Phương pháp điền dã thực địa (phương pháp định tính):
    • Quan sát trực tiếp và quan sát tham dự: Tác giả áp dụng phương thức "3 cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc), lưu trú dài ngày tại hộ gia đình Vinh Sắn (thôn Yến Vĩ). Tham gia các công việc thực tế như đi rừng, trồng rau sắng, làm mắm tép, bán quán, chèo đò; tham gia điều hành tour và hướng dẫn viên cho các đơn vị lữ hành (Công ty Du lịch Dầu khí OSC, Du lịch Phương Đông, Du lịch Hòa Bình) và trải nghiệm vai trò khách du lịch homestay.
    • Phỏng vấn sâu: Thực hiện đối với 4 nhóm đối tượng: chuyên gia nghiên cứu văn hóa - du lịch, cán bộ quản lý địa phương, đại diện doanh nghiệp lữ hành, và cư dân xã Hương Sơn.
  • Phương pháp điều tra xã hội học (phương pháp định lượng): Thu thập dữ liệu từ năm 2002 đến năm 2017. Tiến hành phát và thu về 350 phiếu điều tra bảng hỏi hợp lệ tại cộng đồng cư dân xã Hương Sơn, cơ cấu mẫu khảo sát bao gồm: người trong độ tuổi lao động (18-60 tuổi), người ngoài độ tuổi lao động (61-80 tuổi) và khách du lịch. Quá trình khảo sát có sự phối hợp hỗ trợ của sinh viên chuyên ngành Việt Nam học (khóa 12, 13, 15) thuộc Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Đối chiếu các dữ liệu, chỉ số hoạt động mưu sinh giữa hai giai đoạn trước và sau năm 1990.

Nguồn tư liệu, dữ liệu:

  • Dữ liệu sơ cấp: Nhật ký điền dã, biên bản phỏng vấn sâu hồi cố và hiện tại, kết quả xử lý 350 bảng hỏi điều tra.
  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội của HĐND và UBND xã Hương Sơn; số liệu thống kê của Ban Quản lý Di tích Thắng cảnh Hương Sơn; báo cáo công tác quản lý lễ hội của UBND huyện Mỹ Đức; các tài liệu địa chí địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn xã Hương Sơn

Chương này tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu, xác lập các định nghĩa công cụ và mô tả bối cảnh tự nhiên, xã hội của địa bàn nghiên cứu:

  • Tọa độ địa lý: Xã Hương Sơn nằm ở 20°039′ vĩ bắc, kinh độ từ 105°041′ đến 105°049′ Đông; cách trung tâm Hà Nội 62 km về phía Tây Nam, tiếp giáp 4 huyện (Mỹ Đức, Ứng Hòa thuộc Hà Nội; Kim Bảng thuộc Hà Nam; Lạc Thủy thuộc Hòa Bình). Diện tích tự nhiên toàn xã là 8.284,73 ha, bao gồm 6 thôn: Đục Khê, Yến Vĩ, Hội Xá, Phú Yên, Tiên Mai, Hạ Đoạn. Thôn Yến Vĩ giữ vị trí trung tâm dịch vụ do nằm dọc dòng suối Yến.
  • Tài nguyên sinh thái: Rừng núi đá vôi Hương Sơn ghi nhận khoảng 350 loài thảo mộc, thuộc 92 họ của 6 ngành thực vật bậc cao; các giống cây đặc sản gồm rau sắng, cây mơ, củ mài; các loài động vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ như gà lôi trắng, trăn đất, hoa mai, báo gấm, voọc má trắng, kỳ đà nước.
  • Dịch vụ và kinh tế du lịch: Lượng khách tập trung vào 3 tháng hội xuân (tháng 1 đến tháng 3 âm lịch). Tuyến tham quan gồm 3 nhánh: Hương Tích, Tuyết Sơn và Long Vân. Vận chuyển đường thủy chiếm 95% lưu lượng hành khách (đến tháng 11/2017 có 4.500 đò sắt, đò gỗ đăng ký gắn biển). Hệ thống cáp treo Mai Lâm đi vào vận hành từ năm 2006 (chiều dài 1.218 m, công suất 1.500 khách/giờ). Địa bàn có trên 400 điểm kinh doanh ăn uống và khoảng 300 cơ sở lưu trú nhỏ lẻ vào mùa hội năm 2017. Lượng khách đến Hương Sơn tăng từ hơn 1 triệu lượt (năm 2009) lên 1,24 triệu lượt (tính đến ngày 6/9/2017), trong đó khách quốc tế đạt 12.241 lượt.

Bảng tổng hợp mức giá vé tham quan và dịch vụ thuyền đò tại Hương Sơn (năm 2018):

Hạng mục dịch vụ Mức giá niêm yết (VNĐ) Thành phần chi phí bao gồm
Vé thắng cảnh (toàn khu) 80.000 Phí tham quan di tích, bảo hiểm du khách
Vé đò tuyến Hương Tích 50.000 Tiền công lái đò khứ hồi, in vé, tuyên truyền, thuế
Vé đò tuyến Tuyết Sơn 35.000 Tiền công lái đò, chi phí quản lý điều hành
Vé đò tuyến Long Vân 35.000 Tiền công lái đò, chi phí quản lý điều hành

(Nguồn: Số liệu Ban Quản lý Di tích Thắng cảnh Hương Sơn trích trong luận án)

Chương 2: Văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn trước khi phát triển du lịch (trước năm 1990)

Chương 2 tái hiện bức tranh mưu sinh truyền thống dựa trên nền tảng kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp:

  • Ứng xử với nguồn lực tự nhiên: Trước năm 1990, trên 90% cư dân sống bằng nông nghiệp, lâm nghiệp và đánh bắt thủy sản ("cá Phú Yên, tiền Yến Vĩ"). Đất nông nghiệp canh tác bấp bênh do địa hình lòng chảo, chịu lũ lùi sông Đáy và lũ quét rừng Ngang, đồng thời chịu hiện tượng "ảnh sơn thâm tuấn" (bóng núi che khuất gây thiếu nhiệt độ và ánh sáng), dẫn đến tỷ lệ lép hạt cao. Hơn 80% hộ dân thiếu ruộng hoặc canh tác ở các chân ruộng trũng xấu. Rừng là nguồn cung cấp lâm sản cứu đói (đào củ mài, lấy củ súng, hái rau sắng, đốn củi, đốt than). Đất đai không có giấy tờ hành chính mà xác lập quyền sở hữu bằng thỏa thuận viết tay, truyền khẩu có người làm chứng nhưng không xảy ra tranh chấp.
  • Ứng xử với nguồn lực con người: Mục tiêu nông nghiệp thời kỳ hợp tác xã hướng tới công thức "5 tấn thóc, 2 con lợn, 1 lao động/ha". Trình độ học vấn thấp, tri thức mưu sinh tích lũy qua kinh nghiệm dân gian. Cư dân sáng tạo các công cụ thích ứng địa hình: ván cấy dùng cho đồng ruộng ngập úng, "cuốc con gà" lưỡi nhỏ bén đất để bổ hốc gieo trồng trên đất dốc sườn thung.
  • Hoạt động và nghi lễ mưu sinh: Chèo đò chở khách hành hương thời kỳ này chỉ mang tính phụ trợ trong thời gian ngắn ngủi của hội xuân, phương tiện là thuyền nan, thuyền mộc thô sơ. Nghi lễ mưu sinh thực hiện khép kín trong khuôn viên gia đình (thờ cúng tổ tiên, thần Tài, bà Cô ông Mãnh) và hội làng cầu mùa truyền thống. Phong tục việc hiếu, việc hỷ chịu ràng buộc nặng nề bởi hương ước (tục thách cưới lớn, tục ở rể, đám tang phải vay nợ làm cỗ theo lệ làng).

Chương 3: Thực trạng biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch (sau năm 1990)

Chương này phân tích các biến chuyển căn bản trong phương thức kiếm sống của người dân sau khi kinh tế du lịch bùng nổ:

  • Biến đổi ứng xử với các nguồn lực: Đất nông nghiệp ven suối và trục đường chính chuyển đổi sang đất kinh doanh dịch vụ, mở bến bãi, xây nhà nghỉ, hàng quán. Mặt nước suối Yến trở thành tư liệu sản xuất chính. Nguồn vốn tài chính mở rộng thông qua vay mượn đầu tư phương tiện (đóng đò sắt, nâng cấp nhà trọ). Nguồn lực xã hội chuyển dịch từ gắn kết làng xóm truyền thống sang các liên kết dịch vụ: hình thành tổ hợp đò do Hội cựu chiến binh điều hành, các mạng lưới cung ứng hàng hóa và nhóm trung gian môi giới dịch vụ ("cò").
  • Biến đổi hoạt động mưu sinh: Chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp mạnh mẽ từ làm ruộng, đi rừng sang chèo đò, dịch vụ ăn uống, bán hàng lưu niệm, chụp ảnh, vận hành cáp treo. Mưu sinh mang tính mùa vụ sâu sắc, tập trung cao điểm trong 3 tháng đầu năm. Thu nhập người làm du lịch năm 2017 đạt bình quân khoảng 38 triệu đồng/người/năm; mức thù lao lái đò do Ban quản lý chi trả là 120.000 đồng/ngày, song thu nhập thực tế phụ thuộc chủ yếu vào tiền bồi dưỡng ("tip") của du khách. Xuất hiện các biến tướng tiêu cực: bám đuổi du khách, ép giá, đổi tiền lẻ thu chênh lệch cao (năm 2014 cơ quan chức năng xử lý 138 trường hợp môi giới đò bám đuổi khách, xử phạt 13,5 triệu đồng, thu giữ 11 xe máy).
  • Biến đổi trong nghi lễ mưu sinh: Mở rộng các nghi thức cầu tài lộc mang tính thực dụng; bàn thờ Thần Tài được thiết lập tại hầu hết các cơ sở kinh doanh; nghi thức cúng đò đầu năm và lễ tạ mùa hội phát triển mạnh. Đời sống văn hóa gia đình có sự giản tiện: việc tang ma chuyển dần sang hỏa táng, bỏ tục hỏi to và tập tục ở rể dài ngày trong hôn nhân.

Chương 4: Những yếu tố tác động, xu hướng biến đổi và vấn đề đặt ra với sự biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn trong bối cảnh phát triển du lịch

Chương 4 đúc kết quy luật biến đổi và đề xuất thảo luận chính sách:

  • Các yếu tố tác động: Nhóm yếu tố khách quan gồm chủ trương đổi mới kinh tế của Nhà nước, quy hoạch khu du lịch quốc gia, sự gia tăng nhu cầu du lịch tâm linh, sự can thiệp của chính quyền địa phương và Ban Quản lý Di tích Thắng cảnh Hương Sơn. Yếu tố chủ quan là nhu cầu nâng cao đời sống và sự chủ động thích ứng của người dân.
  • Ba xu hướng biến đổi văn hóa mưu sinh:
    1. Xu hướng thích ứng hoàn toàn (đổi nghề): Cư dân chuyển hẳn từ nông nghiệp sang kinh doanh dịch vụ du lịch chuyên nghiệp quanh năm hoặc làm trung gian du lịch.
    2. Xu hướng giữ nguyên nghề truyền thống: Duy trì sản xuất nông nghiệp thuần túy, ít tham gia vào du lịch, tập trung ở các thôn xa khu di tích như Phú Yên, Hạ Đoạn.
    3. Xu hướng biến đổi đan xen: Kết hợp làm nông nghiệp trong 9 tháng nông nhàn và chuyển sang làm dịch vụ du lịch (chèo đò, bán hàng) trong 3 tháng lễ hội Chùa Hương.
  • Vấn đề đặt ra: Sự suy thoái cảnh quan và ô nhiễm lòng suối Yến do rác thải; tình trạng nhàn rỗi và thiếu việc làm ngoài mùa lễ hội; sự xói mòn tính trung thực và ứng xử văn minh thương quyền; bất cập trong kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm và trật tự an toàn giao thông đường thủy.
  • Bàn luận chiến lược: Đề xuất gắn kết bảo tồn di sản với khai thác sinh kế bền vững, chuyển đổi từ khai thác mùa vụ sang phát triển du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng nhằm giải quyết việc làm quanh năm cho cư dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa các vấn đề lý luận về văn hóa mưu sinh và biến đổi văn hóa mưu sinh của cộng đồng cư dân nông nghiệp dưới tác động của kinh tế du lịch lễ hội từ góc độ chuyên ngành Văn hóa học.
  • Xác lập khung phân tích văn hóa mưu sinh gồm ba thành tố liên kết hữu cơ: ứng xử với các nguồn lực, biểu hiện trong hoạt động thực hành nghề nghiệp, và thể hiện qua các nghi lễ mưu sinh.
  • Nhận diện và làm rõ ba xu hướng biến đổi văn hóa mưu sinh: thích ứng hoàn toàn, giữ nguyên nghề truyền thống, và thích ứng đan xen trong môi trường kinh tế thị trường.

Về mặt thực tiễn:

  • Phục dựng và lưu trữ hệ thống tư liệu về diện mạo mưu sinh truyền thống của xã Hương Sơn giai đoạn trước năm 1990 (tập quán canh tác đất bãi, công cụ cuốc con gà, ván cấy, tri thức dân gian đi rừng, lệ làng trong cưới hỏi, ma chay).
  • Đưa ra hệ thống số liệu thực địa phản ánh biến đổi kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu: cơ cấu ngành nghề, số lượng 4.500 thuyền đò, hạ tầng 300 cơ sở lưu trú, hơn 400 điểm ăn uống, cùng các chỉ số du khách giai đoạn 2009-2017.
  • Chỉ rõ các mặt trái phát sinh trong đời sống xã hội địa phương: nạn chèo kéo, đổi tiền lẻ trục lợi, ô nhiễm môi trường, sự phụ thuộc quá mức vào mùa vụ lễ hội. Cung cấp luận cứ khoa học để Ban Quản lý Di tích Thắng cảnh Hương Sơn và chính quyền địa phương điều chỉnh công tác quản lý dịch vụ và đào tạo văn hóa ứng xử cho cư dân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do tính chất nghiên cứu trường hợp cụ thể tại xã Hương Sơn, các luận giải về biến đổi văn hóa mưu sinh gắn chặt với đặc thù không gian du lịch tâm linh mùa vụ Chùa Hương (suối Yến và hệ thống hang động Phật giáo). Luận án chưa có điều kiện mở rộng khảo sát so sánh đối sánh liên vùng với các mô hình du lịch di sản văn hóa tâm linh khác ở đồng bằng Bắc Bộ (như Bái Đính, Tam Chúc).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi biến động sinh kế của cư dân địa phương khi các dự án hạ tầng lớn và cơ chế quản lý mới được triển khai; nghiên cứu sâu các giải pháp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhằm khắc phục tính thời vụ 3 tháng hội xuân; mở rộng đánh giá tác động biến đổi văn hóa mưu sinh qua các thế hệ lao động trẻ tại các vùng du lịch di sản.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu của luận án có giá trị ứng dụng đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Du lịch và Việt Nam học: Cung cấp khung lý thuyết thao tác hóa về văn hóa mưu sinh, phương pháp điền dã kết hợp định tính và định lượng tại địa bàn nông thôn chuyển đổi.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và du lịch (Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, UBND huyện Mỹ Đức, Ban Quản lý Di tích Thắng cảnh Hương Sơn): Cung cấp các dữ liệu khảo sát thực tế về hành vi ứng xử, nhu cầu thu nhập, tệ nạn trung gian mưu sinh để xây dựng phương án quản lý lễ hội, sắp xếp luồng tuyến thuyền đò và quy hoạch các điểm kinh doanh dịch vụ văn minh.
  • Các nhà hoạch định chính sách xã hội: Tham khảo tư liệu để thiết kế các chương trình đào tạo nghề phi nông nghiệp, chuyển đổi việc làm ngoài mùa hội và bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái vùng đệm di tích.

Câu hỏi thường gặp

  1. Phương thức vận chuyển hành khách chủ yếu tại khu danh lam thắng cảnh Hương Sơn là gì và quy mô ra sao? Văn bản xác định 95% khách du lịch tiếp cận danh thắng Hương Sơn bằng đường thủy qua dòng suối Yến (chỉ có 5% đi bằng đường bộ). Tính đến tháng 11/2017, chính quyền địa phương đã cấp biển đăng ký vận chuyển cho 4.500 thuyền đò (kết cấu vỏ sắt hoặc gỗ). Mỗi thuyền chở từ 6 đến 8 khách. Ngoài ra, từ năm 2006 có hệ thống cáp treo Mai Lâm vận hành hỗ trợ với chiều dài 1.218 m và công suất 1.500 khách/giờ.

  2. Cư dân Hương Sơn trước năm 1990 gặp những trở ngại tự nhiên cụ thể nào trong sản xuất nông nghiệp? Trước năm 1990, sản xuất lúa nước tại Hương Sơn chịu bất lợi lớn do địa hình lòng chảo cực trũng, chịu tác động kép của lũ lùi từ sông Đáy và lũ quét từ rừng Ngang, ruộng ven suối hay bị sạt lở. Ngoài ra, cây lúa chịu hiện tượng "ảnh sơn thâm tuấn" (bóng núi che khuất gây thiếu sáng và nhiệt độ), làm lúa khó trổ bông hoặc trổ bông bạc, khiến trên 80% cư dân không có ruộng hoặc canh tác ở các chân ruộng bấp bênh, mất mùa thường xuyên.

  3. Thu nhập của người làm nghề chèo đò tại Hương Sơn được quy định và phân bổ như thế nào theo tư liệu khảo sát? Theo báo cáo của Ban Quản lý năm 2017, mức công nhật lái đò do Ban quản lý chi trả theo giá vé niêm yết là 120.000 đồng/ngày. Trong cơ cấu vé đò năm 2018 (50.000 đồng/vé khứ hồi tuyến Hương Tích; 35.000 đồng tuyến Tuyết Sơn/Long Vân), một phần được trích để trả tiền người vận chuyển, chi phí in vé, tuyên truyền quảng bá, thuế và phí quản lý của tổ thương binh. Tuy nhiên, nguồn thu nhập chính của người chèo đò phụ thuộc vào tiền bồi dưỡng ("tip") trực tiếp từ du khách.

  4. Mẫu khảo sát điều tra xã hội học của tác giả được thiết kế với dung lượng bao nhiêu và gồm những nhóm nào? Tác giả đã phát ra và thu về 350 phiếu điều tra bảng hỏi hợp lệ tại xã Hương Sơn. Các nhóm đối tượng khảo sát gồm có: 1) Cư dân trong độ tuổi lao động (từ 18 đến 60 tuổi); 2) Cư dân hết độ tuổi lao động (từ 61 đến 80 tuổi); và 3) Du khách đến tham quan. Quá trình phát phiếu có sự trợ giúp của sinh viên chuyên ngành Việt Nam học các khóa 12, 13 và 15 của Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương.

  5. Những biểu hiện tiêu cực phát sinh trong hoạt động mưu sinh du lịch tại Hương Sơn được chính quyền xử lý như thế nào? Văn bản nêu rõ trong dịp lễ hội Chùa Hương năm 2014, Ban tổ chức và chính quyền địa phương đã phát hiện, xử lý 138 trường hợp môi giới lái đò bám đuổi du khách, xử phạt hành chính hơn 13,5 triệu đồng, tạm giữ 11 xe mô tô; xử lý 8 vụ vi phạm trật tự xã hội; thu giữ và tiêu hủy hàng nghìn sản phẩm văn hóa sai quy định, đồng thời ngăn chặn các hoạt động đổi tiền lẻ lấy phí chênh lệch cao quanh khu vực di tích.

Kết luận

Luận án của tác giả Đỗ Hải Yến là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Văn hóa học, làm sáng tỏ tiến trình biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn dưới tác động của kinh tế du lịch từ năm 1990 đến năm 2018. Thông qua hệ thống dữ liệu điền dã kết hợp định tính và điều tra 350 bảng hỏi xã hội học, tác giả đã phục dựng bức tranh mưu sinh nông nghiệp truyền thống và phân tích sự chuyển dịch sang các ngành nghề dịch vụ du lịch hiện đại. Luận án đúc kết ba xu hướng thích ứng sinh kế, vạch rõ những hệ lụy tiêu cực về văn hóa - môi trường nảy sinh từ tính chất mùa vụ của lễ hội, qua đó cung cấp luận cứ khoa học thực chứng cho công tác quản trị di sản văn hóa và định hướng phát triển sinh kế bền vững tại địa phương.